Wikipedia

Kết quả tìm kiếm

Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2013

Cái Hèn Vượt Thời Gian (!?)

Đôi lời với Nhạc Sĩ Tô Hải aka Thằng hèn Tô Hải "kẻ đã sung sướng vung búa đập mả bố" chỉ vì  người em rể là Tướng của VNCH lập mộ sau khi đọc bài “Vài lời tâm huyết…”

*GS Bút Xuân Trần Đình Ngọc
 
Thưa Nhạc sĩ Tô Hải,
 
Trong đối thoại Việt ngữ, quan trọng trước nhất là sự xưng hô. Tuổi của nhạc sĩ chỉ bằng tuổi người chị nhỏ nhất của tôi nên tôi xin gọi bằng anh (tôi là con út của bố mẹ tôi).
Tôi đã đọc bài “Vài lời tâm huyết gửi các cháu Dziệt kiều” của anh, tuy nhiên vì quá bận, lá thư này chỉ trả lời một số mà không nhằm trả lời hết các mục anh đã nêu ra trong bài vừa nói trên.
Trước hết tôi phải nói một sự thực trong lòng tôi, viết và trình làng cuốn:”Hồi ký của một thằng hèn” anh khiêm nhượng nói thế chứ sĩ phu Bắc Hà và khắp vùng đất nước còn nhiều “thằng” hèn hơn anh rất nhiều. Khi vẫn còn ở trong gọng kềm của Việt Gian Cộng sản (vgcs, tôi xin mượn tạm danh từ “trong gọng kềm” của ông cựu Đại Sứ Bùi Diễm (hoàn toàn không hèn!), cả đời ăn lộc hậu hĩ từ miền Nam và người Quốc gia, hiện đang là Đảng trưởng một đảng lớn chống Cộng ở hải ngoại, ông Bùi Diễm (con cụ Bùi Kỷ) đã viết cuốn sách để đời“Trong gọng kềm lịch sử” để ca tụng tên tội đồ dân tộc bán nước cho Tàu: Hồ chí Minh, một thằng rất hèn). Phải, khi còn trong gọng kềm kinh khiếp như chưa bao giờ nhân loại nhìn thấy cách tra tấn, cách đày đọa dã man của vgcs đối với các tù nhân chính trị của họ, thế mà anh (Tô Hải) dám nói lên một phần sự thật quí báu, đúng là một cái tát nổ đom đóm mắt vào mặt giặc Hồ và Mạnh, Triết, Dũng…thì anh Tô Hải đâu có phải là một thằng hèn như anh nhún nhường tự nhận. Cái hèn của anh, nhiều người ở hải ngoại này và cả trong nước mơ không thấy. Tôi thực sự kính phục anh và khinh những bọn xưa nay chỉ khua môi múa mỏ nhưng so với anh thì xách dép anh chưa đáng.  Đây là lòng thành thực, không phải môi mép!
 
Những Tiến sĩ Hà sĩ Phu, Nguyễn thanh Giang, Nhà văn Dương thu Hương, Nguyễn huy Thiệp, Bùi ngọc Tấn, Đỗ hoàng Diệu, Lữ Phương, Trần mạnh Hảo v.v…ở đâu mà lặn kỹ thế! Những người này không hèn tí nào, cá nhân tôi nghĩ,  nhưng chắc đang đi kiếm đôi dép của anh Tô Hải.
 
“Đỉnh cao chói lọi”- Au Zenith -  giờ này cũng thành “thiên đường mù tịt” giữa ban ngày vì anh hùng, vĩ nhân thích uống rượu vang, ghét rượu quốc lủi nay bán nước cho Tàu phù, một cái nhục thiên thu, con cháu khinh vạn đại, đích thị là một thằng hèn, quá hèn và có trọng tội với đất nước. Và “Dẫn nhau đi dưới tấm biển chỉ đường” chỉ là tấm biển để đưa nhau xuống hố thôi sao?
 
Bài này không nhằm “ca” anh nhưng nhằm chỉnh sửa những điều anh nói sai trong bài”Vài lời tâm huyết gửi các cháu Dziệt kiều”.
 
Năm 1945, khi ông Hồ chí Minh kêu gọi toàn dân kháng chiến, lúc đó có lẽ anh đi bộ đội thì tôi mới là một thiếu niên, vì thích cách mạng của ông Hồ quá, mê Độc lập, Tự do, Hạnh phúc hơn mê bất cứ cái gì, xung phong vào bộ đội chính qui nhưng họ không nhận, bảo em còn bé nên sang Văn công mà xung phong. Tôi bèn đi Văn Công, mẹ giấu bố tôi cho tiền để đóng tiền cơm rồi từ đó cùng với đoàn giãi dầu mưa nắng đói lạnh đi khắp mọi miền đất nước, dùng lời ca tiếng hát, tiếng đàn để kích thích lòng dân xung phong gia nhập bộ đội, xung phong đánh Pháp, xung phong thi hành mọi mệnh lệnh từ cấp trên đưa xuống với ý hướng là cùng chung tay diệt Pháp mang lại Độc lập, Tự do, Hạnh phúc, áo ấm, cơm no cho toàn dân trong đó có mình và gia đình mình. Ôi, cái lý tưởng ấy đẹp biết chừng nào!
 
Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng vung gươm ra sa trường. Quân xung phong! Nước Nam đang chờ mong tay ngươi hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời…
Ngựa phi nơi xa tai nghe súng vang bên trời điệu kèn rộn ràng.
Là trang nam nhi, quyết chiến sa trường, sống thác coi thường, mong xác trong da ngựa bọc thân thế trai…
…Toàn dân thét vang kinh kỳ: Độc lập muôn năm dân cùng chung sức kiến thiết. Trước bóng cao quốc kỳ, đứng lên giơ tay, tiến lên đường đi.
Thề phục quốc, tiến lên Việt Nam. Lập quyền dân tiến lên Việt Nam. Đời Hạnh phúc, đắp xây tự do. Việt Nam tranh đấu chống quân ngoại xâm!
 
Chúng ta chưa thể quên được những bài hát oai hùng này, những hình ảnh kiêu dũng này với tiếng trống ếch khua vang trên đường phố, tôi vẫn còn như ngộp thở trong cái không thời gian thần thánh quá đáng sống ấy! Tôi chắc anh và nhiều người khác cũng thế!
Sau hai năm cực khổ và đói lạnh, sau đó tôi té ngửa vì biết ông Hồ và đảng Việt Minh của ông chỉ là đệ tam CS trá hình (do bố tôi quát vào tai tôi với sự giận dữ cực kỳ: Mày muốn mất cả cuộc đời thì cứ đi theo lão Hồ. Y là một cán bộ cs cực nham hiểm và thâm độc. Y sẽ giết nhiều đồng bào và có thể cả bán nước!)
Do vậy, nhờ có bố tôi chỉ bảo, tháng 9 năm 1954 tôi đã vui vẻ theo hơn 1 triệu người di cư vào Nam, làm lại cuộc đời (lúc đó tôi mới có tiểu học Pháp) và đã trở thành một Sĩ quan QLVNCH (1962, khóa 13 Thủ đức), Giáo Sư dạy Triết học và Anh ngữ từ Tú Tài 2 trở xuống (1965). Từ 1959 đến 1965 là GS Toán Lý Hóa từ lớp 10 trở xuống. Năm 1971, tôi đắc cử Dân Biểu Quốc Hội vào Hạ nghị viện VNCH. Ngày 30-4-75 qua Mỹ làm việc cho đến nay.
 
 
1-Anh Tô Hải, anh gọi là Dziệt kiều nghe không ổn. Những đồng bào trốn tránh chế độ gian ác dã man của vgcs đi ra nước ngoài sinh sống không phải là Dziệt kiều đâu anh! Là một Nhạc sĩ cận kề bên bác vĩ đại kính yêu và các gia nô của bác như Tố Hữu, Cù huy Cận, Xuân Diệu, Chế lan Viên, Hoài Thanh… nhiều năm mà sao anh còn tối quá thế. Kiều để chỉ những người nước ngoài qua một nước khác làm ăn buôn bán, thí dụ Nhật kiều đang ở Sàigòn, Pháp kiều đang ở Đà nẵng. Những người Việt Nam hiện nay ở Mỹ, ở Pháp, ở Canada v.v…gần 100% là dân tị nạn chính trị tức tị nạn vgcs, sau khi đã đánh cá cả cuộc đời mình với cái chết. Nguyễn Tuân bảo:”Cái cột đèn đi được nó cũng đi!” anh không nhớ sao? Đó là một cái tát nẩy lửa vào mặt “bác” và đám gia nô việt gian.  Con tôi nhiều đứa đã 4 chục, 5 chục, có đứa gần 6 chục tuổi, chúng sẽ nghĩ đầu óc bác Tô Hải chắc không bình thường nên mới gọi chúng là Dziệt kiều.
 
Vgcs gọi Việt kiều vì họ muốn xóa cái căn cước tị nạn của chúng tôi vô cùng nhục nhã cho họ, nhưng không ai đồng ý điều đó. Những ngu phu ngu phụ thiếu hiểu biết thường dùng danh từ đó thì kể làm chi!
2-Xin anh Tô Hải chớ dùng cái kiểu Việt ngữ “tân biên” của Trần Dzân Tiên dạy cho lũ trẻ. Y muốn cái gì y sáng chế ra là phải khác với người Quốc gia nhưng cứu hộ, đại trà, bức xúc, chất lượng, ùn tắc, sự cố… là bắt chuớc Tàu, sai bét hết. Từ Việt phải viết chữ Việt như thế chứ không viết như anh viết: Dziệt. Trần Dzân Tiên đã bán rẻ danh dự; nay anh cũng muốn theo chân y sao? Hồi năm 1956, tên vgcs bán nước giết bố mẹ, Tổng bí thư Trường Chinh Đặng xuân Khu (mà nay con gái y ra điên vì y giết quá nhiều người, chị này xây những ngôi nhà ma quái ở Đàlạt). Trường Chinh theo lệnh Hồ và lấy quyền Tổng bí thư đảng CSVN ra lệnh cho toàn dân bỏ chữ quốc ngữ học chữ Tàu, bỏ thuốc tây uống thuốc Tàu. Rõ ràng là đỉnh cao trí tệ loài chồn! Sau này, Hồ còn ra lệnh cho tay sai lấy tấm bia kỷ niệm cố Alexandre de Rhodes, ân nhân của người Việt, ông tổ chữ Quốc ngữ (dù rằng còn có thêm mấy cố Tây và I-pha-nho khác cùng chung sức chứ không phải chỉ có mình ông, nhưng Alexandre de Rhodes có công nhiều nhất). Bọn tay sai của Hồ dùng tấm bia làm hòn đá bắc cầu ao để vo gạo, rửa rau. Đúng là những quân ăn cháo đái bát! Khá không nổi!
 
3-Anh có vẻ thích thú khi nhắc lại những lời thằng vgcs bán nước Phạm văn Đồng tuyên bố ở Paris năm 1978 về người Việt tị nạn :”đĩ điếm, lưu manh, ma cô,  ăn bơ thừa sữa cặn…”Xin có ý kiến thế này:
a-  Phạm văn Đồng là một thằng Thủ tướng ký Công hàm bán nước cho Tàu (theo lệnh Hồ) sao anh không moi ra một tí cho nó bớt cái hèn đóng thâm căn cố đế trong cái đầu óc bã đậu của anh mà lại chỉ nhắc suông những lời y chửi đổng người tị nạn trong đó có em rể, em gái anh, những người đã có công với chính anh là trưởng nam và gia đình khi xây mộ cho thân phụ anh. Ông tướng này, LQTh. và vợ ông ta tức em gái anh cũng bị thằng vgcs Phạm văn Đồng gọi là ma cô đĩ điếm đấy! Nhân tiện, xin nói rằng tôi không tin anh đập mả bố anh đâu mà chỉ vì ghét thằng tướng VNCH là em rể nên đập cái bia có tên ông ta lập mộ thôi. Chứ nếu thực sự anh đập mả bố anh thì tôi khinh anh hơn con chó ghẻ!       
b-  Những bọn ma cô, đĩ điếm, lưu manh mà Phạm văn Đồng nói, nay có thiếu gì ở Hải Ngoại này. Tên Nguyễn Kao Kẩu, thằng Nhạc sĩ già mất nết họ Phạm, thằng MC Ngã ba ông Tạ, thằng BS Phát Chẩn, vợ là mụ BS Quỳnh Khùng, thằng Đỗ văng Tròn, thằng Chủ nhiệm Thì báo Nguyễn uy Nghi ở San Jose, thằng chủ báo Đỗ ngọc Én, thằng Hủi Liêm, mấy thằng Người Việt Daily, Weekly…nhiều, nhiều lắm, ở Pháp cũng dăm chục; anh có muốn đến coi cái mặt của chúng dày đến mức nào thì cứ chờ ở cổng lăng thối Ba đình. Những con, những thằng nào đi bằng đầu gối ấy là chúng đó; 850 đến 1000 chả biết có không như chúng tuyên truyền nhưng dăm ba chục thì chắc có. Nhất là bọn xướng ca vô loài kiêm ăn cháo đá bát ở hải ngoại! Tất thảy chúng, dù có học vị Tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư …Chúng chính là bọn ma cô đĩ điếm lưu manh bán nước vì chúng biết chắc vgcs bán nước cho Tàu khởi từ Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Quan, Bản Giốc và Tây Nguyên nhưng chúng vẫn tự nguyện làm gia nô liếm tĩvì miếng đỉnh chung, vì chút tiếng tăm. Phạm văn Đồng tiên đoán cũng khá! Có thằng LS ở Houston chuyên đánh bóng mình được vgcs cho 800 ngàn nay mỗi tháng lãnh lương 5 ngàn đô thì sao? Anh đã đi bằng đầu gối ở cổng lăng Ba đình chưa, anh Tô Hải? Nếu chưa  thì cũng chưa hèn lắm, khá hơn Tố Hữu, Cù huy Cận, Xuân Diệu, Huy Thông, Lữ Phương đấy! Ráng lên! Bài hát ca tụng Tàu và Mao năm xưa theo điệu quốc tế sol đố mì còn nhớ không? Thỉnh thoảng nên hát cho các cháu “Dziệt kiều” nghe chơi cho vui, nhất là những bài ca tụng tình hữu nghị Trung-Việt, núi liền núi, sông liền sông, cùng nghe một tiếng gà gáy, cùng thờ một lãnh tụ! Có thể cùng ở một nhà! Cái ngày ấy không còn xa đâu với đường phố tên Tàu đầy khắp!
 
Anh lại viết:
 Về đến Việt Nam, hầu như các cháu tôi đều phát biểu giống ông Nguyễn Cao Kì: “Đi từ Nam ra Bắc, từ Bắc vô Nam, cháu có thấy cái gì là cộng sản đâu?” Vậy mà mấy ông chống Cộng ở bển cứ hô loạn lên! Cứ như đánh nhau với ma ấy!
Thưa anh Tô Hải tôi xin trả lời thế này:
Về đến VN đi suốt từ Nam chí Bắc không thấy gì cả vì đám trẻ này và thằng Nguyễn Kao Kẫu không đi vào nông thôn, không đi vào vườn hoa Mai xuân Thưởng, không đi vào các sân góp (golf) cán bộ vgcs chiếm đất của nông dân làm sân golf bán cho ngoại quốc thu lời trăm tỉ, nghìn tỉ. Những điều này cho thấy một xã hội mà những kẻ cầm quyền dùng súng và nhà tù cướp đoạt của cải của nhân dân, một xã hội bất công hơn thời thực dân Pháp 100 lần. ThằngNguyễn Cao Kẩu và các thanh niên này cũng không vào nhà tù nơi các người trẻ như LS Lê công Định, LS Lê thị công Nhân, LS/ CH Hà Vũ, LS Nguyễn văn Đài, LM Nguyễn văn Lý (cỡ tuổi của họ), cô Phạm thanh Nghiên, nhà văn Trần khải Thanh Thủy, Kỹ sư Nguyễn tiến Trung, Trần huỳnh Duy Thức, anh Điếu Cày và hàng ngàn tù nhân chính trị khác đang bị nhốt, bị đày đọa, có khi bị giết chỉ vì nói lên lời công đạo, đòi Dân chủ Tự do và Nhân quyền cho cả nước, trong đó có Cao Kẩu đui mù và chính những thanh niên đó.. Cao Kẫu và đám thanh niên này không đến Thái Hà, nơi vgcs cướp đất giáo xứ và Toà Khâm sứ, từ 65,000m2 nay chỉ còn lại 2,000, không đến làng Mai Bát Nhã để coi các tăng ni bị tước đoạt đời sống chỉ vì nghe theo tên điếm quốc tế thiền tiếp hiện Thích Nhất Vẹm, không đến Loan Lý coi vgcs cướp trường của giáo xứ và mới đây, giáo xứ Đồng Chiêm, chúng đưa 1,000 du đãng xã hội đen và công an đầu gấu nửa đêm đặt mìn nổ tung cây thánh giá trên núi Thờ, đánh đập trí mạng nhiều giáo dân Đồng Chiêm phản đối chúng làm việc càn rỡ… Nguyễn cao Kẩu và đám thanh niên này chưa đi đến những đống rác trên đó đám trẻ bụi đời ăn, sống, ngủ và bươi rác để sống. Đám thanh niên này và Cao Kỳ cũng không có ý thức khi thấy đĩ điếm quá nhiều, tại sao đất nước lại “mạt rệp” đến thế mà chỉ biết hưởng thụ thân xác phụ nữ, những kẻ cùng đường phải bán trôn nuôi miệng như câu Ca dao ở Cần thơ trẻ em ra rả cả ngày:
Chiều chiều ghé bến Ninh Kiều
Dưới chân tượng bác đĩ nhiều hơn dân!
Nguyễn Cao Kỳ và đám thanh niên này cũng chưa đến những buổi tập họp hàng trăm cô gái Việt trần truồng cho bọn già lão, tàn phế đàn ông Đài loan, Mã lai, Trung quốc, Hàn quốc lựa vợ. Có thời nào phụ nữ Việt khốn nạn như thế không? Cao Kẩu cũng chưa sang Cam bốt, nơi có hàng trăm động điếm, trẻ Việt rất nhiều vì bị bán sang đó, có đứa trẻ mới 6, hay 7 tuổi, còn mười mấy thì đa phần!
  Còn hàng ngàn nơi khác kể không xiết ở đây mà Kao Kẫu mù và đám thanh niên lòa không đi thăm, cũng không biết, nhưng phát ngôn bậy và anh Tô Hải tin vào. Thật lạ cho cái đầu ngu và hèn của anh, anh Tô Hải!
 
Hơn nữa, thằng hèn Nguyễn cao Kẩu (thằng làm nhục cả ngành Không quân miền Nam và người Việt vì chưa có tên nào hèn và đần như y trong suốt chiều dài lịch sử VN) và đám thanh niên kia đã bị những chai rượu quý, những đồng đôla, nhất là những cái váy đàn bà che mắt, che mất trí khôn không còn nhìn thấy gì nữa nên mới phát ngôn:
 
 Người ta bảo ở Việt Nam mất tự do nhưng chúng cháu lại cho rằng ở Việt Nam này... tự do nhất thế giới! “Chỉ cần có đô la, rượu quý uống thả ga, đàn bà vơ cả đống!"
 
Không khảo mà xưng, rõ ràng từ miệng đám thanh niên này không chối cãi vào đâu được! Nước nhà đã mất về tay giặc một phần, Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Quan, Bản Giốc, Tây Nguyên, Hải Phòng…Thanh niên là rường cột của nước nhà, thế mà thanh niên phát ngôn như thế! Có lẽ đi đâu ai hỏi tôi: anh người gì thì nhục không dám trả lời là người Viêt Nam đấy anh Tô Hải! Anh đã hơn 80 tuổi, ở tuổi ông ngoại ông nội đám trẻ này anh cũng cho thế là đúng, cũng a dua theo chúng! Thực là nhục cho giới sĩ phu Bắc Hà có một người như anh!
Tôi nhớ khi còn học tiểu học (dưới thời Pháp thuộc), gương anh hùng Trần bình Trọng đã làm cho đám trẻ nhỏ chúng tôi phấn khởi: Khi Trần bình Trọng bị giặc Tàu  bắt, Thoát Hoan hỏi muốn làm vương đất Bắc không, ý  muốn chiêu dụ  nhưng tướng Trần bình Trọng quát  lên:“Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vưong đất Bắc!” Thoát Hoan đem ra chém!
 
Trần quốc Toản mới 15, 16 tuổi chưa được dự việc quân, đứng nghe phía ngoài nhà hội ở Bình than, lóng tai nghe vua Trần Nhân tông cùng các tướng họp bàn kế phá giặc Nguyên Mông ở trong, Trần quốc Toản tức giận với quân Tàu xâm lăng, trong tay đang cầm quả cam bóp nát lúc nào không hay rồi ông về nhà tụ tập bạn bè lập một đội quân đi theo đoàn quân của các tướng, ông đánh đâu được đó dưới lá cờ đề sáu chữ: “Phá cường địch, báo hoàng ân”
Sao anh Hải không cho đám con cháu một vài lời chính khí mà lại hùa theo chúng phát ngôn như những phường lạc chợ trôi sông, đầu đường xó chợ vậy?   
4-Anh Hải lại viết:
Ngay giữa một tiệm ăn trung tâm Hà Nội, trong một bữa tiệc liên hoan với gần 30 Dziệt Kiều trẻ về du hí đất nước (trong đó có cháu ruột tớ), sau vài chén ngà ngà say, một cháu Dziệt Kiều đã đứng lên nâng cốc hô lớn “Hãy trở về quê hương, Việt Nam thiên đường của thế giới! Việt Nam đã đổi mới! Trở về! Mau trở về!” Chuyện có thật này xảy ra ngay trong nội bộ họ hàng nhà tớ, nói láo trời bắt chết ngay tối nay!
Anh Hải, anh không cần phải thề bồi làm chi! Ai cũng tin điều đó có thật, nhưng anh có nghĩ lời phát biểu của một thanh niên sau cơn say, trong túi sẵn tiền và gái ngồi kề thì có giá trị bao nhiêu? Có thể lấy câu nói của anh ta làm khuôn vàng thước ngọc đo tình trạng sống của cả nước được không? Khi anh (Hải) không nói ra, không ai biết tri thức anh tới đâu nhưng với câu này tôi thấy anh ngu tối quá, gần hết cuộc đời rồi mà chưa hấp thụ được chút văn minh văn hóa nào! Thực tội cho anh! Không lẽ anh đã lú lẫn? Hay là do tiếp cận với những tiến sĩ lớp ba trường làng của XHCN đỉnh cao chói lọi cứt chồn nên trí óc anh cù lần ra thế? Anh có biết lính cs của giặc Hồ vào miền Nam sau 30-4-1975 dùng cái bàn cầu của mỗi tư gia miền Nam nuôi cá trê, thả con nào con ấy biến mất, có tên lại dùng để vo gạo, rửa rau  nữa. Trí óc anh Hải có lẽ cũng cỡ đó?
Anh tiếp tục viết:
Một số cháu Dziệt Kiều khác thì lại tỏ vẻ “cao đạo” hơn bằng những phát biểu có vẻ “không quan tâm đến vấn đề chính trị”, thậm chí “siêu chính trị” với những nhận định như sau - Về nước Việt Nam không lo làm ăn lại cứ dính vào những vấn đề tự do, dân quyền thì về làm gì? - Thế hệ bọn cháu không thích nói chuyện chính trị v.v...
Anh Tô Hải, người trong nước nhất là thanh niên càng không nói đến chính trị, càng hưởng thụ rượu quý và gái, càng phớt lờ khi Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Quan, Bản Giốc và Tây Nguyên mất thì đảng CS và Nhà nước càng hoan hô, càng mừng, Tàu phù cũng mừng. Biết bao sinh viên học sinh và người dân biểu tình phản đối Trung cộng chiếm Hoàng sa, Trường sa đã bị công an bắt ở tù. Cô Phạm thanh Nghiên chỉ biểu tình với một cái biểu ngữ ở trong nhà của cô cũng bị mấy năm tù. Anh có thấy chính phủ nào nô lệ ngoại bang như thế không? Việt cộng muốn toàn dân khoán trắng cho họ việc cai trị, trường trị để họ cỡi đầu cỡi cổ dân Việt ngàn năm, muốn bán, muốn dâng lãnh thổ, lãnh hải cho ngoại bang nào cũng được. Đó là chủ trương của đảng và Nhà nước. Anh ở với họ suốt một cuộc đời tám, chín mươi năm mà anh không hiểu chủ trương và đường lối của họ, thảo nào anh đã gia nô cho họ suốt cuộc đời. Tiếc thay cho anh!
Nhưng cũng có những đảng viên sớm giác ngộ, bỏ cái mê lầm.  Bà BS Dương quỳnh Hoa, gia nhập đảng CS Pháp từ 1956, sau đó đậu BS Y khoa tại Pháp về nước theo Hồ, được làm Bộ trưởng Y tế của chính phủ Mặt trận GP miền Nam VN, những năm sau cùng bà xé thẻ đảng, ăn năn những việc làm trước kia khi đi theo giặc Hồ. Lê Duẩn cấm bà phát ngôn về việc này trong 10 năm. Lẽ ra họ thủ tiêu bà nhưng không làm được vì sợ quốc tế. DB Lý quý Chung (Hồi ký Vô đề), LS Nguyễn hữu Thọ, Trương như Tảng v.v…cũng phản tỉnh. Còn anh, giờ này anh còn nói những câu khó nghe, phản động như thế đủ biết cái đầu óc bã đậu của anh nó tệ thế nào! LS Lê thị Công Nhân chỉ ở tuổi cháu ngoại của anh nhưng cô ấy sáng suốt và kiên cường chống lại vgcs độc tài toàn trị bán nước cho Tàu chứ không ngu tối và hèn như anh!
Anh lại viết tiếp:
Tóm lại, suốt 20 năm qua được sống, được gặp và được trao đổi với các cháu Dziệt Kiều đã để lại trong tớ nhiều niềm vui và nỗi buồn cho tương lai của đất nước nếu sau này có một phép lạ nào đó dẫn đến hòa hợp dân tộc… thật sự.
Thưa anh Tô Hải,
Ở đầu bài này, tôi khen anh hết mình, khen thực,  nhưng đọc đến đây tôi lại thấy anh vẫn tối, vẫn hèn. Anh đã hơn 80 tuổi mà đầu óc chỉ bằng những thanh niên ba, bốn chục, năm chục. Việt Nam đã đổi mới như lời hoan hô của anh thanh niên. Đổi mới cái gì? Đổi mới nghĩa là tuổi gái VN làm điếm đi khắp các nước Á châu từ 20, 25, 27, 30, 35 nay trở thành 10, 13, 15? Có đứa ở Cam bốt mới 5, 6 tuổi! Thật khó tin nhưng có thực. Đổi mới nghĩa là đàn ông Hàn, Đài, Mã xưa mai mối lấy gái VN, nay thì chúng đứng coi vài trăm gái Việt cởi truồng, xét nét từ cái sợi…tóc, sợi lông để chỉ lựa lấy vài cô? Đổi mới nghĩa là Tư bản Đỏ giầu có, quyền thế hơn, trẻ con nhà nghèo đi bươi rác kiếm ăn nhiều hơn, lao nô đi các nước làm mướn đông hơn? Anh nên tìm hiểu những lao nô bị lừa đi rừng Calais Pháp để “nhảy dù” vào Anh quốc trồng cần sa! Đổi mới có nghĩa những nhà tranh đấu cho Dân chủ Nhân quyền vào tù nhiều hơn và Việt gian chạy theo ngoại bang Tàu và Mỹ đông hơn? Và còn nhiều thứ đổi mới nữa bài báo này thiếu “đất” không có chỗ viết ra!
 
Còn cái Hội nghị Chuột kiều,  theo những đồng bào tị nạn CS ở hải ngoại hiểu thì đó chỉ là một cách để thi hành Nghị quyết 36 vốn bị thất bại ê chề. Đám Việt gian tay sai Việt cộng ở hải ngoại này về cúc cung bái tổ quì lậy lăng Ba đình vì đảng phát lương từ lâu mà sao có vẻ như chúng nằm ngủ. Đảng gọi về để tái tuyên thệ, nguyện trung thành với đảng, với bác dù đảng và bác bán nước cho Tàu.
Chỉ có thế! (Bài này viết trước khi lũ vg này về bưng bô)
 
Xin nhắc lại câu anh Hải viết về GS Nguyễn đăng Hưng:
 Liệu có mấy đại biểu được mời như giáo sư tiến sỹ Nguyễn Đăng Hưng dám tuyên bố: “Ở cái thời điểm vừa ban hành nghị quyết 97, IDS vừa tự giải tán. Tia Sáng vừa bị đóng cửa thì việc triệu tập hội nghị Dziệt Kiều này là không hợp thời?!"
Thưa Nhạc sĩ Tô Hải,
Như nhiều tác giả đã nhận định, vgcs đã đến đường cùng chỉ chờ ngày tan rã như bức tường ô nhục Bá Linh đầu thập kỷ 90. Biến cố oai hùng đó có xẩy ra được không còn tùy vào sự nhận thức sai đúng và lòng quả cảm của người dân bị áp bức, dám vùng lên đòi lại quyền sống cho mình, không chịu sống nhục. Người dân Đông Âu trước đây đã chứng tỏ lòng can đảm này, họ đã chiến đấu quyết liệt (hãy coi Balan, Đức, Lỗ ma ni, Tiệp, Nga…) và ngày nay họ xứng đáng được hưởng Tự do Dân chủ như một phần thưởng quí báu.
 
Sự can đảm thường đi đôi với trình độ văn hóa người dân có, với việc ý thức được nỗi nhục nhã khi mất tự do, mất các quyền căn bản của con người. Nếu người dân vẫn cảm thấy thoải mái với cảnh chim lồng cá chậu, không thấy nhục nhã (như Nguyễn Cao Kẩu và đám thanh niên kia), thì chắc chắn nhục nữa họ cũng chịu được. Lòng can đảm chỉ còn thấy ở đầu môi!
Đó là cái tư duy khi anh viết bài “Vài lời tâm huyết gửi  các cháu Dziệt kiều” và của các cháu. Rượu quý, đô la và những cái váy đàn bà với Nguyen Cao Kỳ, anh và các cháu này phải hơn nhiều Tự do, No ấm cho toàn dân và một Việt Nam Dân chủ, Nhân quyền!
Cũng nói thêm, dù anh đã viết sách tự nhận là hèn nhưng sau 65 năm bị lừa gạt phũ phàng, anh chỉ mới phản tỉnh một nửa, tâm trạng anh, cái mà phụ nữ đi chợ mua thức ăn thường gọi là ba rọi.
 
Chào anh.
GS Bút Xuân Trần Đình Ngọc

 

người về từ nơi “thiên đàng CS!”

Saigon 1988 – Đón người thân tù cải tạo từ miền Bắc trở về tại ga. 


Posted on
 
 
Có người khi về có ai đâu mà đón…Bước xuống xe từ xa nhìn chỗ vợ con mình ở, không dám vào. Cứ đứng xa mà ngó. ”Có lẽ đó là con mình ?”… Cảm giác thật hân hoan, hồi hộp mà đau xót trong lòng . Thầm cầu nguỵên ”xin đừng thấy chiếc nón cối nào”….
 
 
Người về sau 13 năm từ miền Bắc: Ngày đi tóc vẫn còn xanh, nay về tóc râu đã bạc, hom hem trong bộ áo tù màu xám. Người vợ sau 13 năm gian khổ mỏi mòn, tóc cũng đã hoa râm, răng cũng rụng dần nhưng vẫn còn chút xuân sắc của một thời mệnh phụ. Người con, cằn cỗi với tháng năm trong một xã hội phân biệt đối xử vì cha anh là tù”cải tạo”, nức nở ôm tay cha già, sau anh là em anh cũng đang lau nước mắt.

Những giọt nước mắt này phải chăng để mừng đời “giải phóng” hay ứa ra từ nỗi đớn đau của những người thua cuộc?
Bạn có thể quên vì bạn chưa sống với người Cộng Sản!
Anh có thể quên vì anh ở nước ngoài từ 1975.

Em có thể quên vì em sanh ra sau 1975.

Nhưng tôi, tôi không quên được dù tôi muốn quên đi. Bức hình này làm tôi ứa nước mắt mỗi khi nhìn. Ở đó tôi thấy thân phận bạn bè tôi, đồng đội tôi, vợ con tôi và bản thân tôi của một thời dĩ vãng.
.

Chỉ vì tôi là người trong cuộc!
(Nguồn:Unknown).
 

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

cảm nghĩ của John McCain - một cựu "tù VC"!

  • Một cựu tù binh chiến tranh Việt Nam: Bốn mươi năm nhìn lại
Tháng 3 16, 2013 - John McCain 
Đinh Từ Thức dịch 
*
Tôi đã làm bạn với những kẻ cựu thù, điều đáng tiếc là họ chưa vui hưởng những tự do mà người Mỹ trân trọng.
A-John McCainẢnh: Cựu tù binh chiến tranh Việt Nam JohnMcCain năm 1973, sau khi được phóng thích. Ảnh: Wikipedia
Ngày 14 tháng Ba bốn mươi năm trước, các bạn tù binh chiến tranh tại Bắc Việt Nam và tôi, trong y phục dân sự rẻ tiền mà 108 người chúng tôi được cấp vào dịp này, lên xe bus ra phi trường Gia Lâm ở ngoại thành Hà Nội. Một phi cơ C-141 mầu xanh, loại vận tải cỡ lớn của Hoa Kỳ, đợi sẵn để chở chúng tôi về Căn cứ Không quân Clark tại Philippines.
Tại phi trường, chúng tôi xếp hàng theo thứ tự ngày chúng tôi bị bắn rơi, và cố gắng giữ phong cách quân nhân trong khi máy quay phim kêu rè rè cùng với tiếng bấm máy chụp hình và tiếng ồn ào của một đám đông người Việt quan sát chúng tôi. Các sĩ quan Hoa Kỳ và Việt Nam ngồi tại một cái bàn, mỗi người cầm một tờ danh sách tù binh.
Khi đến lượt một tù binh tiến lên phía trước, đại diện quân sự của cả hai bên cùng gọi lớn tên người đó. Họ xướng tên tôi, tôi tiến vài bước về phía cái bàn và chào. Một sĩ quan Hải quân chào lại tôi, cười và bắt tay tôi, rồi hướng dẫn tôi qua sân bay, tới tận cầu lên máy bay.
Tôi đi cùng với hai người bạn thân nhất, là các sĩ quan Không quân Bud Day và Bob Craner, những người mà trong hơn 5 năm qua tôi đã dựa vào cách hành xử và gương can đảm của họ. Mấy phút sau khi chuyến bay bắt đầu, phi công loan báo chúng tôi đã “chân ướt”,  nghĩa là bây giờ đang bay trên Vịnh Bắc Việt và trong không phận quốc tế.  Mọi người reo vui.
Tôi không nghĩ có ai trong chúng tôi lại chờ đợi sẽ có ngày trở lại đất nước mà từ lâu chúng tôi mong được rời bỏ. Thật nặng lòng khi nói lời từ biệt nhau tại Clark, và cảnh từ biệt của chúng tôi vô cùng cảm động.
Chúng tôi hứa sẽ giữ liên lạc thường xuyên, điều mà chúng tôi đã làm được trong nhiều năm, cho đến khi cái chết bắt đầu làm cho nhân số chúng tôi giảm đi. Dầu sao, khi rời Việt Nam chúng tôi đã không hề bị xáo trộn tình cảm và không khao khát tái lập mối quen biết này trong tương lai.
Thế mà tôi đã trở lại Việt Nam. Tôi đã trở lại nhiều lần kể từ khi chấm dứt chiến tranh. Đó là một đất nước đẹp đẽ, và người Việt là những chủ nhân hiếu khách. Phần lớn những chuyến viếng thăm của tôi là vì công việc chính thức: tìm kiếm những chiến binh Hoa Kỳ bị bắt hay mất tích trong thời chiến, giúp cho việc bình thường hóa liên lạc giữa hai nước chúng ta, và phát triển một quan hệ trong tương lai sẽ phục vụ cho lợi ích của cả hai nước.
Tôi đã làm bạn với những người trước đây là kẻ thù của tôi. Đã chuyển sang yêu một nơi tôi từng ghét bỏ. Tôi vui thấy Hoa Kỳ và Việt Nam đã tạo được rất nhiều tiến bộ trong việc kiến tạo một mối liên lạc hiệu quả đôi bên cùng có lợi trong sự đổ nát của một cuộc chiến từng là thảm cảnh của cả hai dân tộc chúng ta.
Hôm nay, những oán trách cũ đã được thay thế bởi những hy vọng mới. Con số người Mỹ tới thăm Việt Nam tăng thêm hàng năm – kể cả ba vị Tổng thống Mỹ khi tại chức – lôi cuốn bởi một đất nước có vẻ đẹp thiên nhiên tuyệt vời và một dân tộc thân thiện. Thương mại song phương tăng hơn 80 lần so với năm 1994, khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận. Điều này có lợi cho người dân của cả hai quốc gia và giúp cho hàng triệu người Việt có thể ra khỏi tình trạng nghèo khó.
Tương tự như thế, quan hệ quốc phòng của hai nước đã phát triển tới mức không thể tưởng tượng được ngay cả một thập niên trước. Quân đội của hai bên đã cùng tập trận và Vịnh Cam Ranh lại trở thành nơi cập bến cho Hải quân Mỹ. Thật vậy, chiến hạm USS John McCain, một khu trục hạm của Hải quân được đặt tên theo cha và ông tôi, mới đây đã tới thăm cảng Đà Nẵng; điều này chứng tỏ chuyện gì cũng có thể xảy ra nếu ta sống đủ lâu để chứng kiến.
Tuy vậy, khi đề cập tới những giá trị mà người Mỹ trân trọng gìn giữ như tự do, nhân quyền và chế độ pháp trị (rule of law), hy vọng cao nhất của chúng ta cho Việt Nam phần lớn vẫn chỉ là hy vọng mà thôi. Nhà cầm quyền Hà Nội vẫn giam cầm và ngược đãi các nhà bất đồng chính kiến ôn hòa, các nhà báo, blogger, những nhóm thiểu số sắc tộc và tôn giáo vì những lý do chính trị.
Những luật lệ chung chung vẫn được duy trì, như điều 88, cho nhà nước quyền hành gần như vô hạn đối với người dân. Nhà cầm quyền vẫn chưa có những hành động dù nhỏ nhất để có thể đặt Việt Nam về phía những nước trên trường quốc tế thừa nhận nhân quyền, như phê chuẩn và thực hiện Công ước chống tra tấn.
Trong một bước tích cực gần đây, nhà cầm quyền Việt Nam đã bắt đầu một cuộc đối thoại với tổ chức Ân xá Quốc tế và cuối cùng cũng hứa hẹn rằng Việt Nam có thể sửa đổi hiến pháp để bảo vệ tốt hơn những quyền về dân sự và chính trị của công dân. Tôi thành tâm hy vọng như thế – vì các quan hệ lớn như giữa Hoa Kỳ và Việt Nam hiện tại có thể xây dựng trên nền tảng những lợi ích chung, nhưng sự cộng tác tốt đẹp và lâu bền nhất thì luôn dựa trên nền móng của sự chia sẻ các giá trị. Trong thử thách này, cũng như trong thử thách khác mà hai nước đã từng vượt qua, tôi vẫn muốn là một người bạn tận tâm với Việt Nam.
Hai nước chúng ta đã có một quá khứ khó khăn và đau lòng. Nhưng đã không tự trói mình vào quá khứ đó và đang đi tiếp trên con đường từ hòa giải đến tình hữu nghị thực sự. Viễn cảnh hứa hẹn này là một trong những bất ngờ lớn nhất và thỏa mãn nhất trong đời tôi, điều mà tôi chờ đợi sẽ còn khiến tôi ngạc nhiên hơn trong những năm sắp tới.//
 *
Nguồn: John McCain, A FORMER POW ON VIETNAM, FOUR DECADES LATER, Wall Street Journal, 14-3-2013
Bản tiếng Việt © 2013 Đinh Từ Thức & pro&contra

'Tàu Cộng' bắn 'Tầu cá" ngư dân Lý Sơn (Quảng Ngãi)

Gia Minh, biên tập viên RFA
2013-03-26




Việt Nam làm gì để bảo vệ ngư dân?

 Tàu cá VN bị truy đuổi và bị tàu TQ bắn cháy hôm 20 tháng 3.

Dư luận trong nước tiếp tục phẫn uất trước việc tàu cá của ngư dân Việt Nam đánh bắt tại khu vực vùng biển Hoàng Sa, bị tàu Trung Quốc xua đuổi, cướp bóc và bắn cháy. Cơ quan chức năng đang làm gì để bảo vệ ngư dân Việt trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam?

Cơ quan chức năng lên tiếng

Lên tiếng mới nhất của chính quyền Việt Nam đối với việc Trung Quốc sử dụng các tàu bắn vào tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam được đưa ra vào ngày 25 tháng 3.
Cũng tương tự như những lần lên tiếng trước đây, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lương Thanh Nghị nói tại Hà Nội rằng hành động truy đuổi và nổ súng bắn cháy ca bin tàu chiếc tàu QNg 96382TS của ngư dân Việt Nam đang hoạt động nghề cá bình thường tại ngư trường truyền thống thuộc khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, trái với tinh thần Tuyên bố Ứng xử của các bên tại Biển Đông, DOC.
Vào ngày 26 tháng 3, văn phòng Trung ương Hội Nghề Cá Việt Nam chính thức gửi công văn đến cho Văn phòng chính phủ, Bộ Nông nghiệp - PTNT, Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương kiến nghị bảo đảm an toàn cho hoạt động sản xuất của ngư dân.
Ông Trần Cao Mưu, tổng thư ký của Hội này xác nhận về việc làm đó như sau:
Không những bắt bớ và cướp bóc tài sản khi mà ngư dân Việt Nam khai thác trên vùng biển chủ quyền, cao hơn nữa bây giờ người ta đã dùng vũ lực tức dùng súng để bắn vào tàu thuyền. 
Trần Cao Mưu
“Nhận được báo cáo từ ngư dân, chúng tôi có văn bản gửi cho các cơ quan chức năng Nhà nước đề nghị có tiếng nói để hỗ trợ ngư dân; cũng đề nghị bình thường như vậy thôi, chứ chưa có gì cả.”
Lý do phải có công văn của Hội như vừa nêu được ông Trần Cao Mưu cho biết vì những hoạt động lấn át của Trung Quốc ngày càng tăng cao:
“Họ ngày càng có những hành động nâng cao sự lấn át của họ, ví dụ như không chỉ xua đuổi tàu chuyền của ngư dân Việt Nam, không những bắt bớ và cướp bóc tài sản khi mà ngư dân Việt Nam khai thác trên vùng biển chủ quyền, cao hơn nữa bây giờ người ta đã dùng vũ lực tức dùng súng để bắn vào tàu thuyền, đốt cháy cả tàu thuyền chẳng hạn. Đó là những hành động có hệ thống, và là những hành động ngày càng được nâng cao; vì vậy phía Việt Nam cũng cần phải có thái độ và trách nhiệm để bảo vệ được ngư dân; đặc biệt tính mạng và tài sản của ngư dân khai thác trên vùng biển chủ quyền được an toàn hơn. Chứ nếu cứ để tình trạng này xảy ra nữa thì ngư dân Việt Nam sẽ rất khó khăn.”

Biện pháp chưa hiệu quả

Không phải đến lúc này, ngư dân Việt Nam đi đánh bắt hải sản tại những ngư trường truyền thống lâu nay trên vùng biển của Việt Nam bị tàu Trung Quốc sách nhiễu và thậm chí bắn chết ngư dân, như vụ ở Vịnh Bắc Bộ hồi năm 2005 đối với các ngư dân Thanh Hóa.
Gần đây tình hình mỗi lúc trở nên thường xuyên hơn. Tuy nhiên các biện pháp từ phía chính quyền Việt Nam chưa được hiệu quả, trong lúc phía Trung Quốc càng ngày càng cho thấy rõ chủ mưu của họ trong việc khống chế toàn bộ Biển Đông.


Tàu cá VN bị truy đuổi và bị tàu TQ bắn cháy hôm 20 tháng 3. Courtesy nld.
Ngay sau khi Việt Nam lên tiếng tố cáo việc Trung Quốc sử dụng vũ lực đối với ngư dân Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Hồng Lỗi lên tiếng tại Bắc Kinh việc hành động của phía Trung Quốc là hợp pháp và cần thiết chống lại việc ngư dân Việt Nam đi vào vùng biển của Trung Quốc.
Hồi đầu năm nhiều người, nhất là ngư dân tỏ ra vui mừng khi Bộ Nông nghiệp - Phát triển Nông thôn lên tiếng nói lực lượng kiểm ngư Việt Nam được thành lập để bảo vệ cho ngư dân đi đánh bắt tại khu vực Biển Đông. Thế nhưng đã qua gần ba tháng, lực lượng này vẫn chưa thể ra đời như xác nhận của ông tổng thư ký Hội Nghề cá Việt Nam như sau:
“(Cười) Nói chung đã có quyết định thành lập lực lượng kiểm ngư rồi. Nhưng nói chung đến thời điểm này mọi thứ đang chuẩn bị, chứ chưa triển khai thực hiện. Tổ chức này chưa ra mắt. Chắc cũng phải có những lực lượng để cùng với ngư dân bảo vệ quyền lợi cũng như chủ quyền của đất nước ở vùng biển cho tương xứng với khả năng của mình. Hai nữa phải tập trung nâng cao năng lực của những đơn vị được giao trách nhiệm bảo vệ vùng biển, bảo vệ ngư dân. Bây giờ đang cố gắng thực hiện việc đó, nhưng thời gian chắc cũng phải có thời gian. Như lực lượng kiểm ngư đã có quyết định thành lập rồi nhưng đến thời gian này vẫn chưa được đầy đủ lắm. Nghĩa là đến bây giờ vẫn chưa đi vào hoạt động. Đó là khó khăn hiện nay.”

Ngư dân thiệt thòi

Hầu như mọi người đều thấy rõ thế yếu của ngư dân Việt trên những chiếc tàu cá bằng gỗ mong manh so với những đội tàu ngư chính, hải giám hiện đại của phía Trung Quốc, ngày càng xuất hiện nhiều tại khu vực Biển Đông.
Nói chung đã có quyết định thành lập lực lượng kiểm ngư rồi. Nhưng nói chung đến thời điểm này mọi thứ đang chuẩn bị, chứ chưa triển khai thực hiện. 
Trần Cao Mưu
Tuy nhiên đối với những ngư dân Việt Nam để có được chiếc tàu để đi đánh bắt ở biển khơi là một cố gắng vượt bực. Nhiều người cả đời cũng chưa thể có đủ số tiền để làm chủ một chiếc tàu như thế.
Một ngư dân tại Đà Nẵng, sau nhiều năm đi khơi cùng với các chủ tàu khác, nay về sắm được một chiếc thuyền nhỏ và chỉ đi đánh bắt gần bờ trong ngày mà thôi. Người này cho biết trước đây mỗi khi đang đánh bắt tại khu vực Hoàng Sa mà thấy tàu của Trung Quốc thì tự động tàu của ngư dân Việt Nam phải tìm đường chạy trốn dù rằng đó là ngư trường truyền thống của Việt Nam và là nơi có nguồn cá dồi dào:
Cái chỗ đó họ cũng ít ra. Đi làm nhưng cũng né khu vực mà ‘họ’ đi qua đi lại,họ sợ.”
Trong những năm gần đây, cứ vào mùa từ giữa tháng 5 cho đến đầu tháng 8, phía Trung Quốc lấy lý do bảo vệ nguồn lợi hải sản đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trong khu vực Biển Đông. Mới hồi năm ngoái, Trung Quốc công khai lên tiếng cho phép các tàu chấp pháp của nước này thi hành nhiệm vụ đối với tàu nước ngoài trong khu vực mà họ cho là vi phạm vùng biển của Trung Quốc. Ví dụ cụ thể nhất là họ đã ra tay đối với tàu QNg 96382TS của ngư dân Bùi Văn Phải, người của đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 20 tháng 3 vừa qua.
Có nhiều ngư dân sau khi bị phía Trung Quốc bắt nộp tiền phạt, họ trở nên dường như trắng tay. Tuy nhiên, làm nghề đánh bắt cá là nghề truyền thống từ bao đời qua, họ không còn con đường nào khác khi đất chật, người đông và cơ quan chức năng cũng chưa có những biện pháp hữu hiệu nào giúp đỡ họ trong cuộc mưu sinh; nhưng ra khơi để rồi lại bị xua đuổi, tước đoạt hết mọi tài sản; thậm chí phải đổi cả sinh mạng thì đó là một giá quá cao mà ngư dân tại nhiều vùng biển Việt Nam đang phải đối diện.//
.


Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

Truyện ngắn - tác giả Thảo Trường

Con Bò
 
Thảo Trường

Trại còn mười hai tù binh, mười sáu công an, hơn bốn trăm con bò. Công an giữ tù. Tù giữ bò. Cứ như thế mà thống trị nhau. Nhưng luôn luôn cái gì ít thì có giá, ở đây tù ít hơn công an, bò nhiều hơn tất cả, cho nên công an gọi tù là các Bác hoặc các Bố, còn bò thì cứ bị giết thịt hoài! Từ trước tới nay công an vẫn gọi tù là anh xưng tôi đồng hạng, dù người tù ấy bảy, tám chục tuổi còn công an mới mười chín, hai mươi! Kể ra vai vế thì phải là ông cháu, phúc đức dày phải là cụ cháu. Nhưng thời này phúc đức rất là mỏng! Anh tôi suốt thành quen miệng và quen tai, kẻ nói không ngượng miệng người nghe cũng không còn chói tai. Con cháu cũng không thấy mình là sách mé hỗn láo vô phép mất dạy. Cha ông cũng không thấy phiền muộn vì bị xúc phạm. Chẳng qua là cái chính sách đàn áp khống chế nó xiềng xích đầu óc người ta lại thành quen rồi. Bọn khủng bố còn tập cho tù nhân chịu đựng cái sức ép lún xuống một độ sâu hơn nữa, chúng lên lớp rằng chính sách cải tạo là một chính sách giáo dục, trại giam là trường học, tù nhân là học trò, còn chúng tự nhận là...  thầy!
 
Chúng nói hoài nói mãi suốt mấy chục năm, nói từ Bắc vô Nam, từ Nam ra Bắc, ai nói khác đi chúng bắt bẻ, buộc tội ngay. Miết rồi quen, vợ con họ hàng ở nhà có ai hỏi cũng quen miệng trả lời nhà tôi đi... học, bố cháu đi học, chú ấy, bác ấy đi học... thậm chí đến các hãng thông tấn, các tờ báo quốc tế có khi cũng dùng những từ ngữ giả mạo đó để mô tả một tội ác giam cầm đày đọa khủng bố con người kinh khủng nhất.
 
Trong tù có anh cũng dễ dãi hoặc dại khờ tưởng mình đi học chứ không phải đi tù! Có người, có lúc, có nơi... cũng là do quá nhu nhược vì bị khống chế tinh thần mà như vậy thôi. Thế nhưng từ ngày chúng thả rất đông chỉ còn giữ lại hơn trăm cho cả nước thì nhiều cái phải thay đổi. Phân trại K2 biến thành chuồng bò. Trại này trước kia có thời đã nhốt tới một ngàn tư, trong nhiều năm chúng thả dần hoặc đưa đi trại khác, số tù binh giảm xuống chỉ còn mười hai người. Cái thay đổi đầu tiên là cách xưng hô, từ trưởng trại gọi bố trước rồi đến tất cả đám cán bộ bên dưới như được mặc nhiên hợp thức hoá, đều bố bố con con hoặc bác bác tôi tôi... Khởi đầu là:

--Trong khi chờ quyết định của Trung ương về trường hợp của các bác bị sót tên, ban giám thị nhờ các bác coi giùm... đàn bò!
 
Thế là mười hai bố sĩ quan cấp tá tù binh biến thành dân chăn bò hết. K trưởng còn nói:
 

--Các bác muốn ở chỗ nào thì ở, muốn ăn gì cứ lấy ăn, chắc cũng không lâu đâu, ít bữa nữa rồi các bác cũng về hết thôi.

Trong khu trại giam không canh gác ấy các bác tuỳ ý chọn chỗ nào mát, chỗ nào thích thì mắc võng, căng mùng, giải chiếu nằm... Xoài, đu đủ, chuối, rau, quả... các bác vừa ăn vừa phá. Các bác còn đùa với nhau:

--Ở tù lâu đến nỗi lên chức bác tù, bố tù rồi thì không còn gì để mà bình nữa.

--Nó gọi mình bằng thằng chán rồi bây giờ mới gọi bằng bố, đúng là lũ con bất hiếu.

--Ợ Nó gọi bằng bố nhưng lại bắt bố đi chăn bò, thêm một tội bất hiếu nữa.

--Trước mặt bố bố con con kiếm điếu thuốc thẳng hút chứ sau lưng nó vẫn chửi mình là thằng tù đấy.

--Đương nhiên, nói dại nếu đang đêm có lệnh trên bảo chúng đem các bố đi bắn thì chúng nó cũng sốt sắng làm. Bố thông cảm!

Thế cho nên nói năng thế nào thì nói, vấn đề không có gì thay đổi.

Thôi cũng được, mình còn đang ở tù, nó có lễ phép giả bộ cũng được, mình biết thế và đừng có cảm động sảng mất lập trường chính nghĩa... Miễn sao mình thoải mái mà sống cho qua ngày. Vấn đề không giản dị đâu, không phải là sót tên đâu, có một ẩn ý gì đây, bọn cóc cắn ở dưới này chúng đâu có biết gì cho nên cũng phải nói đại là sót tên cho nó xuôi tai, chứ thực ra bọn đầu sỏ chúng nó có tính đến một âm mưu gì đó.

Một nhà phân tách tình hình, tay cầm roi bò vung lên cao khua khua như cowboy Texas, phán:

--Các bác thông cảm, thả hết các bác ra, chúng nó đâu còn gì để mặc cả, cũng phải giữ lại một cái gì đó để làm giá chứ! Thử hỏi bây giờ, trong cái nông nỗi này, vườn không nhà trống, bạn bè năm châu sau nhân nghĩa miệng nay đều lảng tránh, nhà cháu nhảy cỡn lên làm anh hùng mãi cũng đã thấy là vô bổ, bèn phải thực tế đi tìm những cái gì cụ thể một tí, mà đi tìm ở đâu bây giờ, tìm chỗ nào thì cũng phải đổi chác, ngay khi đàm phán cũng đã cần phải có cái gì làm quà tặng cơ mà, thế cho nên các bác bị giữ lại là để có cái mà làm giá, các bác sẽ là quà tặng, là vật trao đổi, là con tin không chừng... hà hà... tiền không đấy!

Một ý kiến rất tếu:

--Dằn chảo hả?

--Chứ sao! Tổng bí thư nói thả hết là một nhẽ, còn những tên bí thư khác, tên bộ nội vụ, anh em chúng nó phải tính đến đường cùng của chúng, thả hết để mà tay không à? Thế cho nên phải sót tên một mớ, các bác số đen, tử vi của các bác chưa hết sao triệt, có lẽ vẫn còn la hầu, kế đô... gì đó nằm ngăn cản nên các bác chưa về, âu cũng là cái số... Coi như mấy anh em mình còn bị kẹt lại là do tử vi!

Chúng nó dồn hết các nơi về đây, mỗi nơi sót tên mấy chục, gom về bên K1 cả rồi, nghe đâu hơn trăm, gồm tướng tá...

Như vậy hơn triệu anh hùng nay còn hơn trăm gom về đây... Cả chế độ với chính phủ và quân đội, chính nghĩa và hùng mạnh, sau mười bốn năm sụp đổ và tứ tán, nay còn lại vỏn vẹn trong cái chai này!

Coi như... số của mình xấu nên bị kẹt lại, còn ở tù, trong khi tất cả các anh em khác đã thoát, nhưng hãy nghĩ là chúng ta bây giờ là phần đọng lại của cả một tập thể, chúng ta là những gì còn lại của cái đã mất, chúng ta là đại diện, là biểu tượng của chế độ chúng ta. Ngay giữa lòng cái xã hội khốn nạn này, giữa nơi giam cầm này, giữa chốn rừng thiêng nước độc này, giữa cảnh nhục nhã khốn khổ này, giờ đây, chúng ta hãy tỉnh táo mà nhìn nhận vai trò hiện hữu của chúng ta. Trong đau thương! Cũng giờ đây, những chiến hữu khác, kẻ thì đã chết, kẻ thì đã ra tù nhưng đang phải ẩn nhịn cơ cực nơi âm thầm nào đó, cũng có một số đã thoát nạn và đang yên bình xa xôi... Nhưng, vâng, nhưng chỉ có những kẻ số xui này, chỉ những kẻ bị kẹt này, chỉ những con tin này, chỉ những kẻ làm món hàng trao đổi này, chỉ những thứ bị dằn chảo này là đang còn ở đây. Vâng chỉ còn chúng ta đây thôi ở trong cái chai. Chúng ta là những người tù binh cuối cùng.

Và có thể là những tù binh vô thừa nhận!

Cho đến bây giờ thì vấn đề đã rõ ràng. Ịến lúc phải giải quyết thôi không còn câu giờ thêm được nữa, không còn làm cao làm giá gì với ai được nữa, không còn giữ được nữa thì phải thả, không còn áp chế như trước được nữa thì phải nhân nghĩa bà tú đễ! Một bác già phát biểu:

Thằng chó nào cũng đểu cả, ngoài miệng đứa nào cũng nhân nghĩa. Thằng bỏ tù mình cũng nói đất này nhân nghĩa, thằng đồng minh với mình cũng nói nhân quyền, nhưng chẳng thằng nào thật lòng với các bác cả đâu. Đứa nào cũng có chính sách của chúng nó, mà chính sách thì tùy quyền lợi và nhu cầu mà chúng hoạch định ra, thế cho nên khi cần bỏ các bác thì chúng trói gô các bác lại bỏ đấy cho quân thù vào hốt, xong sẽ la ầm lên đòi hỏi nhân quyền; khi cần giết thì chúng giết các bác không chút nương tay nhưng khi không giữ được thì chúng thả ra và nói nhân nghĩa... Các bác cứ việc ở tù tỉnh bơ, ở tù đã đến nước này thì còn cần chó gì nữa! Thử hỏi bây giờ chúng làm gì được mình nào? Làm gì tôi? Làm chó gì tôi. Tận cùng bằng số rồi là hết. Lâu cứt trâu hóa bùn...

Những năm tháng sau cùng của đời tù binh chúng tôi trở thành dân chăn bò chuyên nghiệp. Họ nhờ thì các bác giúp! Lúc đầu tưởng chỉ giúp mấy ngày, sót tên dò lại mấy hồi, ai ngờ dò lại hơn ba năm nữa chưa thấy tên đâu, mấy ngày của cộng sản hóa ra mấy năm. Được cái suốt mười mấy năm nghe chúng xạo thành nghe quen, nó muốn nói gì thì nói, các bác cũng không chấp. Những ngày đầu các vị cao bồi già cũng bối rối trong cái cương vị lạ mới này. Hơn bốn trăm con bò thả ra rừng trong giờ hành chánh, các bác chia nhau đi bao quanh đàn bò, nếu con nào đi lạc ra ngoài vòng phải đuổi nó vào đàn. Đến giờ nghỉ lùa chúng về chuồng. Những ngày đầu vào nghề thì lo lắm vì bò là loại động vật nổi tiếng là... ngu, chúng đi lang thang bất kể qui định trại giam, cho nên có ngày lạc mất gần trăm con, các bác già lo lắng đi các ngả rừng tìm bò lạc. Có bác còn tính nhẩm mỗi con trung bình ba chỉ vàng, mười con ba lạng, trăm con ba chục lạng...  chia đều cho mười hai bác, mỗi bác ngót ba cây, gom nhau mà đền nhà nước.
 
Đi tù phải đăng ký, ghi tên tuổi, đóng tiền ăn, mang theo tiền tiêu, thuốc men, quần áo chăn mùng mền... đủ dùng cho một tháng học tập. Ịến năm thứ mười bảy vẫn chưa mãn... khoá học, lại để mất bò thì phải đền. Tài sản xã hội chủ nghĩa là thiêng liêng, không ai được đụng tới, không được để mất mát, mọi người đều phải bảo vệ nó. Nghe chưa? Người ta nói ra rả từ năm 75 như thế. Cũng may là đến chiều tối lũ bò lạc lục tục từ các ngả trong rừng lần lượt về đủ cả. Có bác già khen lũ bò này khôn, biết tìm đường về chuồng. Cũng có bác già thì chửi chúng ngu như bò, thoát thân tự do trong rừng không ở lần về chuồng bị nhốt rồi ra còn bị giết thịt nữa. Người khen, kẻ chê, chẳng biết thế nào là đúng sai nữa.

Có bác già kinh nghiệm thì nói:

--Bò cũng sợ rừng và đêm tối, như...Như gì?

--Như người ta.

Người ta có sợ hãi hay không thì còn tranh cãi và tuỳ, nhưng người ta khôn bỏ mẹ, những ngày sau đó các bác không rỗi hơi đi tìm bò lạc nữa, thây kệ, chúng sẽ tự tìm về. Đúng như vậy, mỗi buổi chiều lùa bò về thấy thiếu các bác đóng cửa chuồng, đi tắm rửa nghỉ ngơi, lát sau trời nhá nhem tối lũ bò lạc kéo về nằm lền khên trước cổng chuồng kêu rống inh ỏi. Bác tổ trưởng nói:

--Lúc nãy thiếu mười lăm con, ông nào rảnh chịu khó ra mở cổng chuồng cho chúng vào xem có đủ không giùm tôi chút.

Một bác gắt gỏng:

--Thây kệ nó, ai bảo về trễ ở ngoài ráng chịu, phạt không cho vào nữa.

Một bác già khác:

--Lúc vào chuồng chúng cũng chen nhau giành giật mà vào, về trễ không được vào thì kêu rống lên. Nhốt trong chuồng giống như ở tù sao chúng lại đòi vào nhỉ?

Một bác nằm đong đưa trên võng hút thuốc lá thở khói mù mịt:

--Ờ, kỳ nhỉ, sao lũ bò lại đòi vào chuồng nhỉ?

--Ông hỏi đểu bỏ mẹ đi ấy!

--Người ta chửi bò ngu, cũng đúng, nhưng có khi ngu si dốt nát không biết suy nghĩ gì cả hóa ra lại có... hạnh phúc.

--Vậy hạnh phúc là cái gì trong cõi người ta?

Hôm sau bên trại K1 đem sang đổi một con bò kéo xe. Con bò kéo xe cũ rất lớn và rất hung dữ, nó mới húc chết một người nên không ai dám đánh xe bò cả. Đó là một con bò lớn nhất trại, nó lại rất đẹp, bộ lông màu huyết dụ nên tù đặt cho nó cái tên là Thắm. Và lập tức cả trại gọi nó bằng cái tên ấy. Ở trại tù có nhiều tiếng do tù đặt ra rồi trở thành tiếng chính thức dùng trong trại. Trưởng trại là một anh trung tá công an mới học lớp ba nhưng anh ta rất ma mãnh, anh ta nói với đám nhân viên dưới quyền:

--Tụi bay đừng lý luận cãi vã với mấy bố già, nói không lại họ đâu, kể cả lý luận về chính trị chủ nghĩa cộng sản, sẽ bị họ vặn hỏi là bí đấy. Tao chủ trương nhốt, mấy bố ấy lộn xộn là nhốt, thế là sợ.

Anh ta rất lưu manh, cả khu rừng lá bị anh ta cho tù vào cưa hết cây đem bán lấy tiền một phần bỏ túi, một phần xây cất lung tung lấy tiếng với cấp trên là biết làm kinh tế sinh lời nhiều của cải cho nhà nước. Anh ta lập những trại nhỏ vào sâu trong rừng để tiện đường khai thác gỗ qua mặt kiểm lâm. Trại có các phân trại như K1, K2, K3... bây giờ bày ra những trại nhỏ vài ba cái nhà, đem máy điện vào thắp sáng trưng, đào ao đắp đập ngăn nước thành hồ, đắp đường... nhưng chưa biết đặt tên là gì, nghe tù gọi đó là K Mini, là Hồ Thiên Ân... anh ta chịu liền, thế là thành tên luôn, cả trại đều gọi như thế. Nhưng một công an lại hỏi Mini là gì, Thiên Ân là gì hả bố già? Một bố già bèn lấy bài mười mấy năm trước ra đọc: Mini là chữ của đế quốc, Thiên Ân là chữ của phong kiến, bậy, không nên dùng.Ữ Anh ta ngớ người ra một lát rồi lẩm bẩm, "Bây giờ còn phong kiến với đế quốc gì nữa hả bố? À, nếu thế thì thôi. Cũng như chữ thăm nuôi, lúc đầu họ không chịu, bộ nhà nước không nuôi nổi các anh hay sao mà gia đình phải nuôi, gia đình lên thăm gặp và động viên tinh thần các anh thôi...  Nhưng rồi chết đói nhiều quá mang tiếng với thế giới bèn phải để gia đình đi nuôi hàng tháng, lần nào cũng phải thăm bằng gạo và mì, thịt, cá, tôm khô, lạp xưởng, bột ngọt... dùng cho đến kỳ thăm tới. Do đó thăm nuôi là thăm nuôi, tiếng gọi chính thức không né vào đâu được. Vì thế tù đặt tên con bò là Thắm thì nó phải được gọi là Thắm, tất cả, và cả chính con Thắm nữa, nó cũng phải nhận cái tên đó. Khi một bác già gọi Thắm thì nó phải biết là bác gọi mình.

Hồi tháng trước cô Thủy nữ tù đánh xe bò từ K1 sang lấy phân, cô thì nhỏ người mảnh mai xinh xắn, con Thắm to lớn dềnh dàng ngang bướng vừa đi vừa rống, đến trước cổng chuồng bò cô hỏi một bác già:

--Chú ơi chuồng bò ở đâu chú chỉ dùm cháu...

--Cô hỏi chuồng bò...

--Dạ, cháu đi lấy phân.

--Biết, thấy đánh xe bò là biết đi lấy phân, nhưng cô hỏi chuồng bò ở đâu hả, nó ở trong túi tôi này...

Cô Thủy dậm chân xuống đất bành bạch:
 
--Người ta phải xúc cho đủ một xe phân, sợ không kịp, mà chú còn nói rỡn...

--Tại cô đứng ngay trước cổng chuồng bò rồi hỏi nó ở đâu...

Cô Thủy ngoái đầu nhìn vào trong cái cổng lớn:
 
--Đây là cổng trại mà...

--À như vậy là cô chưa rõ đó thôi, phân trại này bỏ rồi, bây giờ làm nơi nhốt bò, nhà cửa trong đó rỡ đi hết rồi, vào trong đó mà lấy phân nhiều lắm.

Cô Thủy bẽn lẽn quay xe đi về phía cổng chuồng. Chừng mươi phút sau có tiếng kêu, người ta chạy vào thấy cô Thủy lăn lộn trên nền đất đầy phân, con Thắm thì dậm chân gầm gừ. Cô bị con Thắm húc vào bụng, cái đầu sừng đâm thành một vết bầm tím to bằng quả chanh. Người ta khiêng cô đi bệnh xá nhưng ngày hôm sau bụng cô chương lớn lên rồi mê man luôn cho đến khi chết. Từ hôm đó ai thấy con Thắm cũng sợ tránh xa, nghe nói nó bị cột lại đánh đòn nhiều lắm, những người thương cô Thủy đánh nó.
 
Và nó được trả về đàn, đến lần các bác già chăn bò sợ. Chẳng lẽ ở tù mười bốn năm không chết, nay người ta về hết còn mình sót tên ở lại chờ... cho bò đá thì vô lý quá! Mà cũng đáng ngại lắm, thường những hoạn nạn nó hay tới vào những lúc bất ngờ, có khi khó khăn gian khổ trải qua hết rồi tưởng thoát, thế mà... họa vô đơn chí... năm phút cuối cùng của cuộc chiến mà chết thì đau... Năm phút cuối cùng của cuộc chiến trước bị đồng minh và lãnh đạo lừa phỉnh trói tay bỏ lại cho địch bắt làm tù binh vô thừa nhận... đã là đau, chẳng lẽ đau thêm lần nữa.
 
Con Thắm đến chỗ nào, các bác lảng đi nơi khác, chẳng tội gì... Hình như anh chàng cũng buồn, nó lững thững đi theo đàn, nó nổi bật giữa đàn bò cỏ vì nó cao to hơn hẳn, màu lông thật đep, tướng đi chững chạc. Có lúc con Thắm lơ đãng đứng nhìn về một nơi xa xôi nào đó, có lúc nó uể oải gặm mấy cọng cỏ, cũng có khi nó đi lẻ một mình phía sau cùng của đàn. Nó là nơi cho bác già tổ trưởng đổ xuống những cơn nóng giận, bác già đưa ra cho toàn thể các thành viên trong tổ chăn bò một nguyên tắc kỳ cục: với lũ bò là phải nện, mỗi người phải có một cây gậy cầm sẵn nơi tay, con nào chậm chạp bướng bỉnh là phang ngay cây lên lưng lên đầu... tay phang miệng la hét dường như bác có nỗi niềm ấm ức gì đó trong lòng. Gặp con Thắm đủng đỉnh còn ăn đòn nhiều hơn:
 
--Mày là quân giết người, là đồ sát nhân...

Các bác già khác đứng nhìn vị lãnh đạo mà lòng ái ngại, một nói:
 
--Điên cả rồi...

Một khác vung roi đánh lung tung vào đàn bò, miệng cũng la hét:
 
--Đừng tưởng tao không biết đánh! Cũng đừng tưởng tao không biết chửi thề! Đù má!

Lũ bò chạy cuống quýt! Các bác già khác đứng ngơ ngác nhìn! Đêm đó có hai bác già uống rượu đế say khướt, nôn mửa tùm lum, hình như nửa đêm về sáng trong cơn mê có bác còn khóc thút thít như trẻ thơ. Đêm không trăng sao, rừng Lá suối Lạnh, âm u và lạnh lẽo! Sáng sau các bác lùa bò tới một vùng cỏ trống và bằng phẳng cho chúng gặm cỏ. Hai bác già một ngồi một nằm dưới một tàn cây lớn trấn giữ không cho lũ bò lội qua suối. Cánh đồng mênh mông một màu trắng của loài bông cỏ. Một đàn bướm vàng nhiều vô số kể, từ đâu tới chập chờn trải rộng khắp cánh đồng. Mỗi con bướm chỉ nhỏ bằng móng tay, vàng, rực rỡ, đan lấy nhau thành một tấm thảm. Bác già ngồi nheo mắt nhìn ra xa:

--Một nền mây trắng, bên trên lại trải thêm một giải tơ vàng.

Bác già nằm:
 
-Thế còn đàn bò?

--Chúng đang bơi trên biển trắng vàng.

--Biển gì?

--Để lim dim mắt lại chút nữa xem đã, biển gì nào, làm gì có biển vừa trắng vừa vàng...

--Có chứ, biển mộng...

--Xạo...

--Trong một cơn mê sảng hồi bị sốt cấp tính có lúc tôi đã thấy mình chập chờn ngụp lặn trên một mặt biển như thế này...

--À, mộng mị.

--Nhưng là có thực.

--Ờ, nhiều cái tưởng là không nhưng lại có thực, biết đâu đấy.

Hai con bê cái sóng đôi nhau gặm cỏ, cả hai cùng màu vàng nhạt. Theo sau là con Thắm. Một chú bò đực đến gần bèn bị con Thắm đuổi đánh. Bác già nằm, nhỏm ngay dậy, cả hai bác đều dõi theo cảnh đánh ghen:
 
--Tới rồi.

--Hoá ra chúng nó cũng biết yêu.

--Hoá ra chúng nó cũng biết ghen.

--Ghê thật.

Còn xảy ra nhiều lần nữa. Cứ có con đực nào đến gần là con Thắm đánh đuổi. Hai con cái tơ thì vẫn bình thản vô tình, coi như mình không can dự gì tới cái mâu thuẫn ngàn đời ấy.

--Cậy to con lớn xác làm trùm thiên hạ.

--Nhà độc tài độc quyền...

--Tham.

--Ích kỷ.

Chợt con Thắm cào cào hai chân trước mấy cái khiến những bụi cỏ bật rễ, rồi nó nhảy hai chân trước lên lưng một con bê tơ, con tơ này phải đứng khựng lại, sức nặng quá lớn của con đực Thắm làm cho con bê muốn quị xuống, trong khi ấy con tơ kia vẫn thản nhiên gặm cỏ kế bên. Nhưng rồi sau mấy cái xông xáo, con Thắm xìu xuống, cái sinh dục của nó đỏ hỏn lòng thòng như một giải cờ gặp nước. Con tơ thoát nạn tiếp tục đi bên con bạn, lững thững, gặm cỏ... Con Thắm chán chường theo sau... Hai bác già ngồi ngó kẻ bất lực.

Có những khi người ta muốn lật đổ một cái gì đó nhưng sức không đủ đành ngậm ngùi nhìn... nước chảy hoa trôi. Buổi sáng hôm đó, con Thắm còn cố gắng nhảy thêm mấy lần nữa, khi thì với con cái này, khi thì với con cái kia, nhưng không lần nào thành công cả. Có lần còn thê thảm đến nỗi hai chân trước mới chỉ gác lên lưng con tơ thì đã tuột xuống ngay. Hai bác già lắc đầu:
 
--Chấp nhận đau thương cho rồi.

--Lực bất tòng tâm.

--Ngày tàn của bạo chúa.

Đến gần trưa các bác già lùa đàn bò về gần tới chuồng thì có hai công an ôm hai khẩu AK đi theo đội hình hàng ngang tiến tới in như trong bài tập tấn công. Có anh còn đi theo thế lom khom như đang xung trận thật sự. Anh ta lên đạn cái xoạch. Một bác già đứng lại hỏi:
 
--Cán bộ làm cái gì thế?

Thiếu uý công an tên là Chức nói:
 
--Bắn con Thắm?

--Sao bắn nó?

--Ban giám thị cho... làm thịt.

Bác già thở phào:
 
--Tưởng cán bộ đi tấn công quân đế quốc bành trướng gì chứ, làm như đi trận thiệt ấy, thôi khóa an toàn lại, để lùa cả đàn vào chuồng rồi muốn bắn con nào thì bắn.

Nhưng anh ta không nghe, anh ta lăm lăm khẩu súng tiến đến gần con Thắm. Đàn bò nối đuôi nhau vào chuồng, một bác già đứng đếm. Thiếu uý công an Chức chặn con Thắm lại bên hàng rào tre, con Thắm nhìn chăm chăm vào người công an và khẩu súng rồi nó đủng đỉnh gặm mấy cọng cỏ bên đường. Một bác già nói với một bác già bạn:
 
--Mình tránh ra phía sau nó kẻo lỡ mang họa.

--Ừa, mình đứng ngoài cuộc chiến...

Tên Chức giương súng lên nhắm ngay đầu con Thắm, chỉ cách mục tiêu chừng bốn mét, anh ta lấy thế đứng hai chân dạng ra... đùng, đùng, đùng... một bác già la lên:
 
--Ba phát là báo động có tù trốn.

Tên Chức đùng thêm một phát nữa, bác già lại la lớn:
 
--Bốn phát là báo động cháy. Coi chừng bên K1 nghe bắn lại tưởng bên này có tù trốn hay có hỏa hoạn họ kéo nhau sang bây giờ...

Tên Chức bắn thêm một phát nữa là năm, năm phát AK nhưng con Thắm vẫn đứng sững, máu me ròng ròng chảy xuống từ miệng, tai, cổ nó... và con Thắm chợt lầm lũi đi về hướng tên Chức, anh ta hoảng sợ bỏ chạy. Người công an kia nói:
Đồng chí lui ra để tôi xử nó cho.

Con Thắm chậm chạp tách bầy, nó đi về phía khe suối cạn, hai người công an vẫn khư khư ôm hai khẩu súng đi theo sau nó trong một tư thế hết sức thận trọng. Hai con bê cái vẫn sánh đôi bên nhau bình an đi vào chuồng. Bác già lúc nãy chửi đổng:
 
--Bố tiên sư quân bạc tình. Chớ hề ngoái đầu lại nhìn lấy một lần vĩnh biệt. Chúng làm như không hề biết, không hề nghe, không hề thấy...

Bác già kia đáp:
 
--Bác thông cảm, chúng nó là súc vật không có ý thức.

--Thế nếu là người thì sao?

Con Thắm bị lùa xuống một chỗ trũng, sau đó thêm một phát súng nổ nữa thì nó quị. Hai người công an đứng trên bờ nhìn xuống hồi lâu rồi một anh mới xách cái búa nhảy xuống. Anh ta nhắm ngay sọ con Thắm mà bổ, con vật chồm dậy đứng sững, người công an liệng búa nhảy vội lên bờ. Hai người lại đứng trên nhìn xuống con vật, lúc đó nó đã máu me cùng mình. Thêm một phát súng nữa con Thắm lại quị, người cầm búa nhảy xuống bổ nhát thứ nhì, con vật lại chồm lên đứng sững, lại vứt búa nhảy lên bờ. Cứ như thế cả thảy bốn lần bắn bốn lần bổ búa và cuối cùng thì con vật cũng chẳng vùng dậy được lần thứ năm. Một bác già làm tính nhẩm rồi tổng kết trận đánh như sau:
Chín viên đạn AK cộng với bốn búa kết liễu một kiếp kéo xe.

Chiều hôm đó các bác già được nhà bếp cấp phát thịt bò làm bữa cơm tối nhưng không có bác nào dám ăn. Các bác kiêng, sợ xui, vì nó là con bò húc chết người. Bèn cho hai anh công an có công lớn trong vụ hạ sát con Thắm. Hai anh này, một anh nấu thịt, một anh đạp xe ra chợ Sông Giêng mua rượu đế. Tối đó hai kẻ thắng trận được một bữa nhậu liên hoan mừng công hể hả mãi tới khuya còn khướt. Sáng sau một bác già cầm roi ra cổng đi thả bò, gặp Chức, bác hỏi:
 
--Tối qua đạt yêu cầu?

--Chức cười ngoác miệng tới mang tai:

--Quá đã, quá đã.

--Cũng đủ lãng quên đời...hả?

--Mà sao các bố không ăn thịt bò...?

--Ăn chứ, nhưng không phải lúc nào cũng ăn...

--Các bố lạ nhẩy!

Bác già định nói gì đó nhưng không hiểu sao lại thôi. Bác đi một quãng chợt đứng lại vạch ống quần lên đến đùi, bác gãi gãi cái đầu gối mấy cái, rồi mới đi tiếp về phía những con bò.

Chuyện này có lẽ chẳng ai để ý tới và có lẽ cũng chẳng có ai còn nhớ tới. Thế nhưng không hiểu sao hình ảnh con Thắm tội nghiệp, hình ảnh cô Thủy xinh đẹp, hình ảnh các bác tù binh già lầm lì khốc liệt, khu rừng Lá âm u, và tính chất súc vật của một nền văn minh cộng sản, nó cứ ám ảnh lẽo đẽo theo tôi hoài. Tại sao, tại sao nhỉ, người ta, đôi khi, lại không quên được những chuyện mà người khác không chú ý tới.

(HB/5.18.1993)