Wikipedia

Kết quả tìm kiếm

Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2013

DO NOT LISTEN TO WHAT COMMUNISTS SAY.
WATCH WHAT COMMUNISTS DO.
*

Dứt bỏ cơ chế CSVN: Điều tiên quyết để phát triển

Đăng bởi lúc 1:07 Sáng 28/07/13

VRNs (28.07.2013) – Geneva, Thụy Sỹ – Chúng tôi theo rõi cuộc Đại Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế bắt đầu từ năm 2007 và đang diễn ra mạnh lúc này. Có những nước mang hậu quả trầm trọng của cuộc Khủng hỏang, có những nước chịu hảnh hưởng nhẹ hơn.
Kinh tế Việt Nam tụt dốc không phải chỉ nguyên từ ảnh hưởng chung của cuộc Đại khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới, mà còn từ những lý nội tại của nước mình dưới quyền quyết định độc tài của đảng CSVN. Chủ đích của chúng tôi không phải nhìn việc tụt dốc Kinh tế như chấp nhận một sự đau thương không thể tránh từ hậu quả chung Thế giới, nhưng là tìm cách đòi hỏi những ĐIỀU KIỆN để nhằm khắc phục họan nạn để từ đó phát triển BỀN VỮNG Kinh tế của Quê Hương Việt Nam.
Nhằm chủ đích viết bài này như vậy, chúng tôi xin đề cập đến những khía cạnh sau đây:
- Kinh tế không lấy quyền sống làm mục đích
- Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới và hậu quả lên Kinh tế Việt Nam
- Điều kiện tiên quyết cho việc Khôi phục và Phát triển bền vững Kinh tế Việt Nam
  •  Kinh tế không lấy quyền sống của người dân làm mục đích
Nên nhắc lại sự thất bại của chế độ Cộng sản trong lãnh vực Kinh tế. Ngòai việc chủ trương nền Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy gồm truất hữu và bỏ tự do cá nhân làm Kinh tế khiến những tác nhân Kinh tế không còn kích thích làm việc, nền Kinh tế của Cộng sản còn coi Kinh tế là để phục vụ cho Chế độ Chính trị của mình, tức là những tác nhân Kinh tế làm việc không phải là cho quyền sống của mình, mà phục vụ cho quyền sống của một Chế độ Chính trị. Những quyết định Kinh tế là do quyền lực Chính trị định đọat.
Kinh tế Cộng sản đã thất bại tòan diện để bụng đói của người Dân đòi hỏi chấm dứt Chế độ Cộng sản tại Nga và những nước Đông Âu. Xin nhắc lại rằng chính cái quyền Dạ Dầy của người Dân của những nước này đã là động lực chính đòi buộc chấm dứt Chế độ Cộng sản, chứ không phải là những ý niệm trừu tương Dân chủ, Nhân quyền.
Tại Việt Nam, chế độ Cộng sản không ra ngòai luật chung thất bại Kinh tế tòan diện. Dân chúng nghèo đói. Một quốc gia sản xuất gạo, tôm cá sông và biển, mà Dân phải ăn bo bo. Đó là cái hậu quả của một thể chế xử dụng sức lao động kiếm cơm của người dân để phục vụ cho mục đích Chính trị của đảng CSVN. Chính chế độ đã phải kêu gào van xin Thế giới “Cứu đói, Giảm nghèo !” Những đồng bằng Việt Nam cung cấp dư thừa lua gạo vẫn còn đó. Những sông chằng chịt, biển dài 1600 cây số là nguồn dồi dào cung cấp thức ăn. Tại sao Dân nghèo đói? Đó chỉ là vì không cho Dân tự do làm Kinh tế để phục vụ cho chính cái Dạ Dầy của họ, mà là để phục vụ cho độc tài đảng trị theo ý thức hệ rỗng tuếch Mác-Lê đã bị ném vào sọt rác.
Vì tình trạng đói nghèo của Dân chúng, thất bại của Kinh tế Cộng sản, mà chế độ buộc lòng phải MỞ CỬA, ĐỔI MỚI.
Qua những lời tuyên bố của các Lãnh đạo đảng CSVN, thì việc đổi mới là chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường và thêm cái đuôi là định hướng XHCN. Trên thực tế, nền Kinh tế Việt Nam vẫn bị xử dụng vào mục đích phục vụ cho quyền lực Chính trị độc đảng CSVN và tệ hơn nữa là phục vụ cho túi tham cá nhân của tầng lớp nắm quyền Chính trị. Đảng CSVN vẫn chủ trương một CƠ CHẾ cho quyền độc tài Chính trị nắm trọn độc quyền Kinh tế. Khía cạnh Tự do và Thị trường trong cái CƠ CHẾ này là việc chuyển Kinh tế của Trung ương Tập quyền sang Kinh tế của những đảng viên và những liên hệ gia đình với đảng viên. Nếu nền Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy hòan tòan để phục vụ Chính trị đảng, thì nền Kinh tế mở cửa và đổi mới Tự do và Thị trường không những để phục vụ Chính trị đảng mà còn để phục vụ cá nhân những đảng viên.
Nếu phải so sánh, chúng ta thấy nền Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy còn mang tính cách nhân đạo hơn nền Kinh tế mệnh danh Tự do và Thị trường định hướng XHCN dưới CƠ CHẾ hiện hành. Thực vậy, nền Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy còn nhận trách nhiệm BAO CẤP dân chúng, nhưng nền Kinh tế mệnh danh Tự do và Thị trường dưới CƠ CHẾ hiện hành một đàng phủ nhận BAO CẤP, một đàng lợi dụng nguồn lực kinh tế quốc gia phục vụ quyền lực đảng và cho sự giầu có vơ vét cá nhân của đảng viên. Đời sống dân chúng luôn luôn bị bỏ rơi.
Trước khi xẩy ra cuộc Đại Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới, CƠ CHẾ hiện hành đã khai thác những nguồn lực kinh tế quốc gia như:
- Cấu kết với tài phiệt nước ngòai để khai thác triệt để sức lao động của dân Việt Nam nhằm sản xuất những hàng hóa để xuất cảng. Đây không phải là việc phát triển Kinh tế mà là việc bán rẻ sức lao động Việt Nam cho tài phiệt nước ngòai.
- Tài nguyên thiên nhiên của quốc gia bị khai thác và bán thô cho nước ngòai
- Bán mặt bằng cho nước ngòai, thậm chí tịch thu những đất đai nông nghiệp để nhường cho tài phiệt nước ngòai khai thác.
- Cho những Tập đòan Kinh tế Nhà Nước thực hiện những Dự án to lớn nhằm làm vẻ vang chế độ. Những Tập đòan này tham nhũng, ăn hối lộ và chi tiêu lãng phí ngân qũy.
- Kinh tế VN có ưu thế tự nhiên và lịch sử là nông nghiệp và ngư nghiệp. Nhưng CƠ CHẾ hiện hành đã bỏ ra một bên vì lý do rất đơn giản là việc phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp không cho phép đảng và những cá nhân đảng viên ăn tham nhũng mau chóng làm giầu cho mình.
Những họat động gọi là Kinh tế trên đây không phải là việc phát triển Kinh tế Đất nước phục vụ cho đời sống dân chúng, mà là nhằm ăn xổi ở thì cho đảng và cho túi tham của cá nhân thuộc đảng.
Nền Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy đã thất bại và nền Kinh tế gọi là Tự do và Thị trường định hướng XHCN dưới CƠ CHẾ hiện hành không thể nào gọi là vĩ mô phát triển bền vững được. CƠ CHẾ hiện hành chỉ tạo cái hố sâu Giầu-Nghèo trong Xã hội Việt Nam. Một thiểu số thuộc đảng và liên hệ đã trở thành rất giầu có. Đại đa số Dân chúng trở thành nghèo khổ cùng cực.
Cái chứng cớ hiển nhiên của việc không có vĩ mô và không bền vững là sự tụt dốc hiện nay khi va chạm với Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới lúc này.
  •  Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới và hậu quả lên Kinh tế Việt Nam
Chính nền Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng ăn xổi ở thì cũng đang chịu hậu quả khốc liệt của Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới, huống chi là Kinh tế Việt được xây dựng èo ọt với tham nhũng lan tràn phát sinh và được nuôi dưỡng bởi CƠ CHẾ.
Nói về tình trạng tụt dốc Kinh tế hiện nay, thì chúng ta thấy nhan nhản những thông tin từ báo chí trong nước về: đình công, đóng cửa công ty, chủ công ty nước ngòai bỏ trốn qụyt luong, thất nghiệp tăng vọt, lao động du mục trở về miền quê với hai bàn tay trắng…
Chúng tôi chỉ xin trích ra đây những nhận xét của World Bank:
“World Bank khuyến cáo Việt Nam phải cải tổ
Ngân hàng Thế giới tức World Bank nói người Việt Nam còn thua về thu nhập cá nhân tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore”.
Báo cáo ‘Vietnam Development Report 2009′ ra 4-5/12 tại Hà Nội đánh giá các lĩnh vực kinh tế, cơ cấu vốn, mô hình phát triển của Việt Nam trong hơn 10 năm qua và nói nước này vẫn “cạnh tranh kém”.
Báo cáo Phát triển Việt Nam 2009 cho biết hầu hết các tiêu chí cạnh tranh trong kinh doanh của Việt Nam đều dưới trung bình, không vượt quá năm điểm.
Nhưng dù có chịu tác động bên ngoài, tương lai Việt Nam những năm tới tùy thuộc hoàn toàn vào “các quyết định về chính sách kinh tế”.
Không cải thiện gì
Báo cáo trích ý kiến của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam nói ba năm qua gần như không có cải thiện trong việc thực hiện năm tiêu chí: vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng.
Ngân hàng Thế giới tin rằng Cải cách hành chính công nếu thành công sẽ giúp Việt Nam tiết kiệm được từ 800 triệu đến 1.3 tỉ USD.
Tương lai Việt Nam những năm tới tuỳ thuộc vào các quyết định về chính sách kinh tế. Giới cấp viện cũng thừa nhận rằng việc đánh giá tác dụng của viện trợ nước ngoài cho Việt Nam là “khó khăn”, nhất là trong các dự án cụ thể.
Điều không thuận lợi cho Việt Nam, tính từ cuối 2008, là thế giới bên ngoài đang ngày càng trở nên “khó đoán trước” (uncertain).
Không chỉ Ngân hàng Thế giới mà giới chuyên gia gần đây cũng cho rằng lạm phát cao, xuất khẩu giảm và các vụ tham nhũng, thất thoát đầu tư khiến bức tranh kinh tế Việt Nam tới đây tụt dốc.
Với thu nhập bình quân đầu người năm 2007, Việt Nam còn thua xa Indonesia (1918 USD) Thái Lan (3850 USD), và Singapore (35163 USD).
Lấy chỉ số tăng thu nhập trung bình căn cứ vào giá mua hàng từ 2001-2007 so với con số tương tương ứng của ba nước này, thời gian để Việt Nam đuổi kịp các họ đó là hơn nửa thế kỷ đến một thế kỷ rưỡi.
Ngân hàng Thế giới đặt câu hỏi liệu Việt Nam sẽ đi theo số phận của Liên Xô cũ hoặc thành công như Mauritius, một quốc gia nhỏ bé đã cải tổ thắng lợi.
Việt Nam mất 51 năm mới theo kịp Indonesia.
Tăng trưởng GDP hàng năm luôn ở mức cao, thậm chí trong thời điểm kinh tế khó khăn, luôn làm nức lòng người dân. Thế nhưng, tính toán mới đây của Ngân hàng Thế giới cho thấy Việt Nam sẽ phải mất hàng chục năm, thậm chí là cả trăm năm mới có thể đuổi kịp các nước láng giềng.
Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố đầu tháng này đưa ra những thống kê gây sốc cho những ai đang kỳ vọng lớn vào “con hổ Việt Nam”. Theo đó, Việt Nam có thể mất tới 51 năm mới đuổi kịp Indonesia và thậm chí 158 năm nữa mới bằng được Singapore về thu nhập trên đầu người.
Mặc dù đã mào đầu rằng công việc dự báo xu hướng tăng trưởng lâu dài là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn ngay cả với các nhà kinh tế giỏi, nhưng WB cũng đưa ra những căn cứ rõ ràng để chứng minh cho phán đoán của mình.
WB còn đưa ra một cách tính toán nữa là tính bằng đồng đôla. Theo đó, tốc độ tăng trưởng thu nhập trên đầu người tính bằng đôla của các nước Việt Nam, Indonesia, Thái Lan và Singapore tương ứng là 12,5%, 6,4%, 4,9% và 6,0%. Nếu sử dụng các con số này thì thời gian để Việt Nam theo kịp các nước trên sẽ là 15 năm với Indonesia, 22 năm bằng Thái Lan và 63 năm thì ngang với Singapore.
Chúng tôi cũng trích dẫn ra đây nhận định của hai Kinh tế gia sống tại Việt Nam.
Bà Phạm Chi Lan, Cố vấn Kinh tế mà chúng tôi gọi là nịnh thần Kinh tế cho chế độ, cũng phải than lên:
“Tình trạng mất việc làm, thất nghiệp gia tăng là mối lo hàng đầu của mọi quốc gia trong bối cảnh suy thoái, khủng hoảng kinh tế.
Trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu và khó khăn kinh tế trong nước, các ngành dùng nhiều lao động ở nước ta đều bị chấn động, buộc phải thu hẹp sản xuất, kinh doanh, cắt giảm việc làm. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài cũng không thể thực hiện các cam kết của họ ở Việt Nam, thậm chí có những nhà đầu tư đã lặng lẽ đóng cửa nhà máy ra đi.
Rõ ràng giảm việc làm là điều khó tránh khỏi, trong khi nhu cầu tạo việc làm cho hàng triệu người đến tuổi lao động và tạo việc làm mới cho những người cần chuyển đổi việc làm vẫn là nhu cầu thường xuyên ở nước ta, và hoàn toàn không dễ giải quyết trong thời buổi khó khăn này.
Nếu Bà Phạm Chi Lan không dám đụng chạm đến cái CƠ CHẾ hiện hành phát sinh và nuôi dưỡng Tham nhũng, lý do quan trọng của tụt dốc Kinh tế, thì Ông Bùi Kiến Thành, Cố vấn Kinh tế độc lập, thẳng thắn nêu ra lý do cốt lõi THAM NHŨNG của CƠ CHẾ:
“Ông Bùi Kiến Thành cho rằng quản lý nhà nước thế nào cho thông thoáng, tạo điều kiện, tạo môi trường hoạt động bình đẳng.
Ông kết luận vấn đề then chốt là kinh tế càng khó bao nhiêu thì nhà nước càng phải tránh vấn để tham nhũng, bởi vì:
“Vấn đề tham nhũng được nêu ra nhiều lần trước quốc hội mà giải quyết không xong. Tham nhũng là từ nơi có quyền lực, mà quyền lực nằm trong tay ai?  Đó là hoàn toàn trong phạm vi nhà cầm quyền phải giải quyết để đưa nền kinh tế tiến lên, tránh nguy cho thất nghiệp và nguy cơ mất an ninh xã hội.”
  •  Điều kiện tiên quyết cho việc khôi phục và Phát triển bền vững Kinh tế Việt Nam
Nhật báo LE MONDE, ngày 24.02.2009, đăng bài với tựa đề FACE A LA CRISE, L’ASIE CHERCHE SA PROPRE VOIE (ĐỐI DIỆN VỚI KHỦNG HỎANG, Á CHÂU TÌM CON ĐƯỜNG RIÊNG CỦA MÌNH), tuyên bố tóm tắt hai điều:
- Le modèle de croissance fondé sur l’exportation s’effondre (Mẫu phát triển dựa trên xuất cảng sụp đổ)
- Orientation des investissements et de la production vers les consommateurs de la région (Chuyển hướng đầu tư và sản xuất cho những người tiêu thụ trong vùng).
Trung quốc, khi tuyển bố trong tháng 11.2008 Chương trình kích cầu USD.530 tỉ, đã ý thức về việc tạo khả năng tiêu thụ nội địa vì thấy rằng Kinh tế của mình tùy thuộc việc đặt mua hàng từ Hoa kỳ và Liên Âu. Kinh tế tụt dốc, xí nghiệp đóng cửa và thất nghiệp lan tràn vì thiếu đặt mua hàng từ hai khối tiêu thụ lớn này.
Việt Nam, để có thể ngăn chặn tụt dốc Kinh tế hiện nay và để phát triển, cũng cần phải:
1) Bỏ những Tập đòan Kinh tế Nhà Nước, bỏ tập trung quyền lực Kinh tế dưới quyền quyết định của độc đảng Chính trị CSVN.      
2) Cho tư nhân quyền Tự do Kinh tế thực sự, nghĩa là không chịu sự quyết định trực tiếp hay gián tiếp của độc tài Chính trị
3) Chú trọng đặc biệt đến Nông nghiệp, Ngư nghiệp, lãnh vực của đại đa số quần chúng và thuộc khả năng phong phú tự nhiên của Đất nước. Đây là phương diện tạo khả năng tiêu thụ của đại đa số dân chúng và là đà xây dựng cho công nghệ tương lai.
Thực hiện những hướng đi trên đây, điều kiện tiên quyết tất nhiên là phải dứt bỏ cái CƠ CHẾ hiện hành. Đó là cái CƠ CHÊ chủ trương ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm trọng ĐỘC QUYỀN KINH TẾ.  Đây là cái CƠ CHẾ làm phát sinh và nuôi dưỡng lan tràn THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ.
Đảng CSVN cố thủ giữ lấy CƠ CHẾ ấy vì muốn độc quyền cai trị và muốn thâu tóm Kinh tế phục vụ cho đảng mình và những cá nhân thuộc đảng.
Mặc dầu chai lì bấu víu lấy quyền hành, nhưng đến một lúc, dân chúng đói nghèo quá, họ sẽ bạo động phá tan cái CƠ CHẾ tội lỗi này. Những cuộc bạo động chống lại lực lượng công an đàn áp đã bắt đầu tại Hưng Yên, Long Xuyên và Đồng Nai gần đây nhất.
Dân càng nghèo, càng đói, thì sức bạo động nổi dậy càng mạnh để đạp đổ CƠ CHẾ hiện hành. Đó là định mệnh của tất cả những cuộc Cách Mạng.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Tác giả gởi đến hộp thư VRNs

blog Nguyễn Ngọc Chính - thêm chi tiết về " Hanoi Jane"!

Jane Fonda và cuộc Chiến tranh Việt Nam

http://chinhhoiuc.blogspot.ca/2013/06/jane-fonda-va-cuoc-chien-tranh-viet-nam.html

Thứ bảy, ngày 01 tháng sáu năm 2013


2 nhận xét:


  1. Qua bài viết này, tôi có một cái nhìn khá hoàn chỉnh về Jane Fonda nhờ nguồn tư liệu phong phú, chọn lựa những nội dung cần đưa vào và cách trình bày rất rõ ràng của anh Chính. Xin hoan hô và cám ơn anh. Giá mà chúng ta có thể viết được về rất, rất nhiều Jane Fonda Việt Nam mà gần đây tôi được đọc một bài chỉ dừng lại ở tính chất liệt kê. Chúc anh an vui và ngày càng có nhiều bài giá trị (như bài này). Haha.
    Trả lời
  2. Có quá nhiều những "Jane Fonda" trong chiến tranh VN, tạo thế bất lợi cho chính quyền VNCH. Đó cũng là những áo tưởng về chủ nghĩa CS và thiên đường xã hội chủ nghĩa.
    Lúc ấy phía miền Bắc VN không có tự do, trong khi miền Nam VN có chính sách tự do dân chủ và nhiều nhân vật đối lập, chỉ trích chính phủ, biểu tình xuống đường...như: Nghị sỹ Lý Chánh trung, Dân Biểu Lý Quý Chung, DB Hồ Ngọc Nhuận, DB Nguyễn Văn Binh,rồi các nhà báo,tu sỹ phật giáo, công giáo, sinh viên Huỳnh tấn Mẫn...nhiều lắm, dù biết là CS nhưng chính quyền không làm gì được vì sợ dư luận...Tất cả những nhân vật này sau 1975 đã bị CS lợi dụng tuyên truyền rồi không được tin dùng, một số trốn chạy ra nước ngoài và bị tù cải tạo. Đó là bài học đau thương cần ghi nhớ và CSVN luôn thành công với sách lược tuyên truyền và bạo lực cách mạng trong các thời đại.
    Trả lời

Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2013

nơi nào là quê hương !?

Posted on | Để lại phản hồi | Sửa

  • Chùm khế ngọt
Chu Thập
 
Chùm Khế Ngọt.jpg
   Trong “quê hương bỏ túi” đằng sau nhà, tôi có trồng một cây khế ngọt. Đúng như nhà thơ Đỗ Trung Quân trong nước đã viết trong bài thơ Quê hương nổi tiếng của ông, trong các thứ cây nhiệt đới, có lẽ cây khế là hình ảnh gợi nhớ quê hương nhiều nhứt, nhứt là những cái bông lấm chấm. Khế ở Việt Nam ra trái quanh năm. Khế ở Úc này có lẽ cảm thông được với tâm trạng buồn nhớ quê hương của người Việt tỵ nạn chăng, cho nên chỉ ra trái vào mùa Thu, mùa có “tháng tư đen”. Trái chín không đậm đà như ở quê nhà, nhưng cũng đủ ngọt để người thưởng thức vẫn nhớ mãi quê hương và biết rằng dù ở đâu hay có mất tất cả, họ vẫn ôm ấp mãi quê hương trong lòng.
Thật ra, với tôi, quê hương không thu gọn trong “chùm khế ngọt trong vườn, con diều thả trên cánh đồng, con đò nhỏ khua nước trên sông, chiếc cầu tre nhỏ bắc qua con mương, giàn hoa bí, giậu mồng tơi, hàng rào dâm bụt …” Dĩ nhiên, nói đến quê hương người ta dễ nhớ đến những kỷ niệm của thời thơ ấu. Nhiều lắm, kể không xiết. Nhưng  quê hương cũng chưa hẳn là những kỷ niệm, những nơi mình đã sống. Có lẽ mỗi người đều giữ cho mình một hình ảnh quê hương của riêng mình. Theo ý nghĩa ấy, người nước nào cũng có một quê hương để ôm ấp. Tôi nghĩ đến trước tiên những người Úc mà tôi đang sống với.
Lối vào nhà tôi hiện nay được chia thành hai con đường cụt nối liền với nhau theo hình chữ T. Có một hiện tượng cứ khiến tôi phải suy nghĩ mãi là: chỉ nội trong 5 năm vừa qua, trong khoảng trên dưới 30 ngôi nhà, đã có hơn một nửa được bán đi. Ngoại trừ vài cặp vợ chồng già, đa số cư dân mới trong xóm của tôi đều là những người mới đến. Người Úc quả không quyến luyến với ngôi nhà họ đang ở. Thích thì ở, không thích thì dọn đi nơi khác. Nhưng có phải vì vậy mà họ không có quê hương sao?
Ở quê tôi, ít có ai bỏ xóm làng để đi phương xa lập nghiệp. Có đói khổ cách mấy, người ta cũng cố bám vào quê cha đất tổ mà sống. Như trường hợp mấy đứa cháu con của bà chị cả của tôi chẳng hạn: mảnh đất của chị để lại rộng không hơn một ngàn thước vuông, vậy mà có đến 5 đứa con của chị chia nhau mỗi người một mảng để cất nhà túm rụm bên nhau.
Kể từ khi ra khỏi Việt Nam, tôi mới nhận thấy rằng quê hương không còn giới hạn trong một mảnh đất hay những kỷ niệm của thời thơ ấu nữa. Vì nhu cầu của cuộc sống, vì đòi hỏi của những tiện nghi vật chất, vì sự cần thiết phải thích ứng với những tiến bộ của kỹ thuật và nhất là vì công ăn việc làm, con người thời đại xem mọi thứ trong cuộc đời này là tạm bợ. Chẳng có nơi nào là nơi chôn nhau cắt rún, chẳng có ngôi nhà nào là nhà của tổ tiên. Nếu cần, nhứt là để thay đổi cuộc sống, người ta có thể bỏ lại tất cả để ra đi.
Trước kia, nhứt là ở thôn quê, giữa con người và sự vật luôn có một quan hệ mật thiết. Thi sĩ Alphonse de Lamartine của Pháp (1790-1869) đã diễn tả đúng sợi giây liên kết giữa con người và sự vật qua câu thơ nổi tiếng: “Hỡi những vật vô tri giác, các ngươi có linh hồn không mà lại quyến luyến với linh hồn của chúng ta và buộc chúng ta phải yêu thương?” (Objets inanimés, avez –vous donc une âme qui s’ attache à nôtre âme et la force d’aimer?). Tôi hiểu được cái thói quen khác thường của cô con gái con của người bạn chí cốt của tôi bên Mỹ. Năm nay đã sắp ra trường đại học, nhưng cô không thể nào ngủ mà không có tấm chăn đã hầu như rách nát mà cha cô đã mua tặng cho mẹ cô khi hai người mới yêu nhau và được dùng để đắp cho cô khi cô còn đỏ hỏn. Giữa con người và sự vật quả có một mối liên kết mật thiết khó giải thích được.
Nhưng trong xã hội tiêu thụ ngày nay, xem chừng mối quan hệ ấy ngày càng lỏng lẻo. Hầu như chẳng có thứ gì mật thiết đến độ khiến con người thời đại phải bám víu vào suốt đời nữa. Từ miếng giấy lau tay, lau mặt thế cho chiếc khăn “mù soa” cho đến chiếc xe hơi, thứ gì cũng có thể dùng rồi vứt đi (disposable) hay bán lại. Văn hóa tiêu thụ cũng đồng nghĩa với văn hóa “vứt bỏ”. Chỉ trong một xóm nhỏ như nơi tôi ở, tháng nào tôi cũng thấy có gia đình mang đồ cũ ra bỏ trước nhà để được hội đồng thành phố cho người đến hốt đi. Thỉnh thoảng, bắt chước người Úc, tôi cũng “ngang nhiên” đi bới rác. Đôi khi, trong cái đống rác nhà giàu này, tôi cũng lượm được khối đồ vật còn tốt chán. Tôi cứ nghĩ: cũ người mà mới ta. Có sao đâu! Nếu có mang chút mặc cảm thì có lẽ không phải vì lượm đồ cũ cho bằng cảm thấy như mình không đóng góp hết mình cho sự chuyển vận của bánh xe kinh tế. Kinh tế nước nào mà cũng gặp toàn dân “trùm sò” như tôi, nghĩa là không thích mua sắm mà chỉ thích xài đồ cũ thì chắc phải sập tiệm thôi!
Kinh tế và kỹ thuật tân tiến ngày nay cứ bắt con người phải chạy theo hàng mới đến bở hơi tai. Có những thứ máy móc như điện thoại hay máy vi tính cầm tay tôi chưa dám đụng tới, vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn đã trở thành lỗi thời. Thứ gì cũng trở thành tạm bợ và nhứt thời đối với người tiêu dùng ngày nay. Hãy nói đến số phận của chiếc xe tại Hoa Kỳ chẳng hạn. Ai cũng thích xe. Ai cũng thích nói về xe. Nhưng “tình cảm” của con người đối với chiếc xe không đủ mãnh liệt để khiến họ phải giữ mãi một chiếc xe. Trung bình, người dân Mỹ chỉ xử dụng một chiếc xe 3 năm rưỡi. Chính vì thời gian xử dụng một chiếc xe không quá lâu mà kỹ nghệ bán xe cũ mới thịnh đạt. Chính kỹ nghệ xe hơi tại Hoa Kỳ đã thành công trong việc đánh đổ cái quan niệm truyền thống cho rằng đã mua sắm cái gì thì phải xử dụng nó cho đến cùng. Ngày nay, “ăn chắc mặc bền” có thể là một quan niệm đi ngược lại với sự phát triển của kinh tế. Nói đến kinh tế là phải nói đến sản xuất và tiêu thụ. Có tiêu thụ nhiều, nghĩa là có xài rồi vứt bỏ thì mới có sản xuất và như vậy kinh tế mới phát triển.
Song song với việc thay đổi xe nhanh chóng như thế, có một hiện tượng khác phát sinh từ Hoa Kỳ và lan rộng đến hầu hết mọi nơi trên thế giới: đó là việc thuê xe! Ngày nay, nhứt là trong những thành phố lớn, nơi mà chỗ đậu xe cũng đắt gần như mua một chiếc xe mới, ngày càng có nhiều người thay vì mua xe đã chọn giải pháp thuê xe. Đi đâu cũng thuê xe được. Ở đâu cũng có chỗ cho thuê xe. Vừa tiện lợi, vừa ít tốn tiền, vừa không phải đóng bảo hiểm và thuế đường hàng năm.
Mà đâu chỉ có xe hơi. Hiện nay, bất cứ vật dụng gì cũng đều có thể thuê mướn được. Nhiều người ngày nay có lẽ cũng thích mướn nhà hơn mua nhà. Trong thời kỳ Đại khủng hoảng kinh tế hồi thập niên 1930 của thế kỷ trước, khi có đến hàng triệu người thất nghiệp và lâm cảnh “vô gia cư” thì có được một ngôi nhà riêng của mình là một mơ ước cả đời người và đồng thời cũng là động lực thúc đẩy kinh tế trong các xã hội tư bản. Ngay nay, ở đâu cũng thế, ước muốn có được một ngôi nhà riêng của mình vẫn luôn mạnh. Tuy nhiên, tại Hoa Kỳ chẳng hạn, kể từ sau Đệ nhị thế chiến, tỷ lệ của những căn phòng được cất lên để cho thuê ngày càng gia tăng. Cuối năm 1955, tỷ lệ này chỉ có khoảng 8 phần trăm số nhà ở. Đầu thập niên 1960, tỷ lệ này lên đến 24 phần trăm. Hiện nay, nhứt là trong những thành phố lớn, số người ở nhà thuê ngày càng gia tăng. Vì tình trạng tài chính của gia đình cũng có, vì công ăn việc làm cũng có mà vì sở thích cũng có. Người ở nhà thuê luôn có cái cảm giác được tự do. Họ có thể thay đổi chỗ ở bất cứ lúc nào. Giữa đô thị, con người thời đại vẫn có thể sống kiếp “du mục” nay đây mai đó.
Hãy thử tưởng tượng nhịp sống của một viên giám đốc công ty tại Wall Street chẳng hạn.  4.30 chiều mỗi thứ sáu, ông xếp lại giấy tờ và cho vào một chiếc cặp xách tay. Từ tầng lầu thứ 29 của một cao ốc, ông đi thang máy xuống tầng trệt và mất 10 phút để chen chúc trong đám đông mới có thể đến một bãi đậu dành cho trực thăng. 6 phút sau, ông ra đến phi trường J.F Kennedy. Một giờ sau, ông đến phi trường Colombus, tiểu bang Ohio. Từ đây, ông mất khoảng 30 phút để lái xe về nhà.
Mỗi tuần, ông ngủ bốn đêm trong một khách sạn ở Manhattan. 3 đêm còn lại, ông dành cho vợ con tại Columbus. Trung bình, mỗi năm, ông đi đi về về như thế gần một trăm ngàn cây số.
Chuyện đi lại của viên giám đốc trên đây không phải là một trường hợp cá biệt. Tại tiểu bang California, mỗi sáng những chủ nông trại giàu có đều lái máy bay khoảng hai trăm cây số từ nhà của họ ở vùng duyên hải Thái bình dương đến thung lũng San Bernadino Valley để thăm các nông trại và ở lại đó cho đến chiều tối.
Ngày nay, với những phương tiện di chuyển ngày càng tối tân, con người ngày càng đi lại nhiều hơn. Thời đệ Nhứt thế chiến, trung bình một người Mỹ mỗi năm chỉ di chuyển tối đa gần 3 ngàn cây số. Ngày nay, tại Hoa Kỳ cũng như tại Úc Đại Lợi này, những người có xe riêng mỗi năm có thể di chuyển đến 20 ngàn cây số (x. Alvin Toffler, Future Shock, Pan Books, London 1971).
Không quyến luyến với sự vật mình đang xử dụng, không gắn bó với ngôi nhà mình đang ở, phải chăng con người thời đại ở các nước văn minh không có một “quê hương” để nhớ? “Trông người lại nghĩ đến ta”, phải chăng bỏ nước ra đi như tôi là mất quê hương? Tôi còn nhớ, trong những ngày đầu tiên khi từ trại tỵ nạn mới đến Pháp, giấy chứng nhận là người tỵ nạn tôi nhận được có ghi rõ tình trạng của tôi: “vô tổ quốc”, nghĩa là không phải là công dân của một quốc gia nào. “Vô tổ quốc” nhưng không phải là “vô quê hương”. Điều đó có nghĩa là dù có ăn nhờ ở đậu ở đâu, ai cũng còn có một quê hương. Và ngay cả không thể trở về quê hương, họ cũng vẫn mang theo một quê hương trong lòng.
Nghĩ như thế cho nên kể từ lúc bỏ nước ra đi, dù sống ở chân trời góc bể nào, tôi cũng vẫn luôn thấy mình vẫn còn có một quê hương. Người ta có lý để gọi đất nước mình chọn lựa để dung thân là quê hương thứ hai. Quê hương thứ hai không chỉ là lãnh thổ của một đất nước, ngôi nhà mới mình đang cư ngụ, cảnh vườn mới xung quanh nhà, mà còn là hình ảnh của quê hương cũ được mình cố gắng tái hiện bằng nhiều cách. Chính trong ý nghĩ đó mà tôi cố gắng tạo dựng một “quê hương bỏ túi” trong ngôi vườn đàng sau nhà.

Tôi đã có dịp trở lại thăm “quê nhà”. Nhớ quê hương, yêu mến quê hương thì lúc nào tôi cũng có. Nhưng trở về sống ở quê hương bây giờ thì dứt khoát không. Bởi cái quê hương của “riêng” tôi không còn nữa. Không phải vì khung cảnh cũ không còn mà chính là vì cái chất “keo” thiêng liêng của an bình, của đầm ấm giữa xóm làng, giữa người với thiên nhiên trong cái nhìn của tôi không còn nữa. Cũng mảnh đất quê hương ấy, cũng những con người ấy, nhưng cái chất “keo” kia ra vẻ không còn nữa. Nhìn nhau thật sâu nhưng sao không tìm thấy mình trong đáy mắt của người kia. Ngồi cách nhau một mặt bàn mà xa nhau hơn nửa vòng trái đất. Tôi sợ mình sẽ trở thành người xa lạ ngay chính trên quê hương của mình. Nhưng mãi mãi không gì có thể làm cho nguôi ngoai nỗi nhớ quê hương trong tôi.

Quê hương là chùm khế ngọt”. Đúng vậy, tôi không thể thưởng thức trái khế ngọt trong “quê hương bỏ túi” đàng sau nhà mà không cảm thấy như mình đang sống ở quê hương. Thật ra đâu chỉ có chùm khế ngọt. Một khung cảnh thanh bình, một môi trường lành mạnh, những mối quan hệ tốt đẹp với người lối xóm…ở đâu tôi cảm thấy an bình thì ở đó chính là quê hương của tôi vậy.//

Chu Thập