Wikipedia

Kết quả tìm kiếm

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2016

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có phải là ĐẠI tham nhũng không (?)

Từ biệt thự biển, nhà thờ họ đến khối tài sản khổng lồ của gia đình Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc

Chân Dung Quyền Lực – Giữa lúc cả nước đang sục sôi với các đại án tham nhũng, thì Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bỗng năng nổ xuất hiện như vì sao sáng trên các phương tiện truyền thông. Ông liên tục ra những chỉ đạo trên mọi lĩnh vực, bất kể có thuộc chức trách, nhiệm vụ của ông hay không, từ tham nhũng, giao thông, y tế, giáo dục… đặc biệt lần nào ông cũng hô hào rất to: sẽ tuyên chiến với tham nhũng, cần phải quyết liệt, cần kiểm tra, xử lý nghiêm minh cán bộ bao che cho buôn lậu, sản xuất hàng giả…
Với khẩu khí bừng bừng, tưởng đâu ông sẽ lăn xả ngay vào trận chiến với “giặc nội xâm”, té ra chỉ là ngôn ngữ kiểu chèo đò qua sông rồi bỏ lái. Hiệu quả từ khẩu hiệu chống tham nhũng của ông Phúc đâu chưa thấy, chỉ thấy… từ khi ông làm Phó Thủ tướng đến nay đã bảo hộ vững chắc cho cả dòng họ tranh giành được vô số các mảnh đất vàng, những hợp đồng và cơ hội làm ăn béo bở, từ đó gây dựng nên đế chế gia đình, với khối tài sản trị giá hàng tỷ USD.
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, ngoài căn nhà nho nhỏ ở số 58 Nguyễn Thị Minh Khai, Đà Nẵng được ông trưng ra làm bình phong cho thiên hạ thấy mình thanh cao, còn vô số các biệt thự khác như: căn Villa số E9 rộng 373m2 tại khu du lịch Ocean Villas; biệt thự Vincom Village 04/29 Hoa Sữa, Hà Nội; căn hộ 59 Ngô Tất Tố, Q.Bình Thạnh, TP.HCM); căn hộ T1-0507 Ruby, Saigon Pearl… thì ông đều cho người nhà đứng tên; Nhà thờ họ ở số 49 Phan Kế Bính – Đà Nẵng được xây dựng hoàn toàn bằng các loại gỗ quý, điêu khắc, trạm trổ tinh vi, lại được trùng tu thường xuyên để đảm bảo cho sự tiến thân trong sự nghiệp của ông; hàng loạt các tài khoản chìm trong ngân hàng, tập đoàn… đều được ông Nguyễn Xuân Phúc ém nhẹm bằng nhiều hình thức.
Sau thời gian dài đâm chém trên cái ghế Viện trưởng VKSND TP. Đà Nẵng, ông anh ruột Nguyễn Quốc Dũng lại được cậu em (Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc) chống lưng để vơ vét trong lĩnh vực xây dựng. Công ty TNHH Nguyễn Quốc Dũng (198 Trần Phú, Q. Hải Châu, Tp. Đà Nẵng) chính là nơi để vợ chồng ông Dũng vươn vòi bạch tuộc hút các dự án màu mỡ tại mảnh đất miền Trung này.
.
Nhưng dù sao, con cái vẫn được tin tưởng hơn là anh em, vợ chồng cô con gái rượu Nguyễn Thị Xuân Trang (sinh năm 1986) và chàng rể Vũ Chí Hùng (sinh năm 1979) mới chính là là những kẻ được Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chọn mặt gửi vàng…
Vợ chồng Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Trần Thị Nguyệt Thu và Vũ Chí Hùng, Nguyễn Thị Xuân Trang – những tay hòm chìa khóa của ông trong một chuyến tạ lễ
.
Vũ Chí Hùng thuộc diện gia đình chính sách, được hưởng ưu đãi của chế độ nên được Nhà nước cho đi du học nước ngoài tại Mỹ (1997-2003), Anh (2003-2007). Khi về nước, Hùng lận đận làm nhân viên quèn tại công ty CP Chứng khoán VNDirect. Vận mệnh đổi thay, khi năm 2008, Hùng chinh phục được Nguyễn Thị Xuân Trang, ái nữ của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và được kết nạp vào Đảng. Từ đây cuộc đời của Hùng bước sang trang mới, dưới sự phân công và bảo trợ của bố vợ, Hùng được cắm ngay vào mảnh đất màu mỡ của Tổng Công ty CP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) với chức danh Phó phòng Quản lý vốn và Đầu tư tài chính – Ban Tài chính. Sự nghiệp lên như diều gặp gió, tỷ lệ thuận với khối tài sản khổng lồ mà Vũ Chí Hùng đem về Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc…
Gia đình Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và nhiều đại gia góp mặt trong đám cưới Vũ Chí Hùng – Nguyễn Thị Xuân Trang ngày 24/9/2009
.
Thực hiện định hướng của bố vợ và sự bảo trợ của các đại gia được Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ định, từ khi về nước đến nay, Vũ Chí Hùng đã thay mặt Phó Thủ tướng thực hiện hàng loạt các phi vụ thâu tóm, đầu cơ tài chính:
.
– Từ năm 2007 đến nay, với vai trò nắm tài chính của PTSC, Vũ Chí Hùng đã “lách” được 46,69 tỷ đồng từ công ty Cổ phần Phú Thạnh Mỹ. Trong đó, Hùng gửi gắm ông Trần Công Tấn (em vợ Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc) đứng tên 36,69 tỷ đồng và tặng riêng cho bố ruột là ông Vũ Chí Kiên số tiền 10 tỷ đồng.
.
– Năm 2010, trên quê nhà Quảng Nam của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, chàng rể Vũ Chí Hùng thâu tóm được dự án “Khu phố chợ Điện Nam Trung” (Khu đô thị Điện Nam – Điện Ngọc, Điện Bàn, Quảng Nam) trên danh nghĩa hợp tác với đối tác “ma” mang tên công ty TNHH MTV Đầu tư và Xây dựng Nguyên Thịnh Phát (do ông Trần Công Tuấn, cũng là em vợ Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đứng tên) với tổng số vốn 79,65 tỷ đồng.
.
– Năm 2013, Vũ Chí Hùng cùng tay trong Nguyễn Văn Hoan (PTSC) mở Công Ty TNHH Thương mại – Tư vấn Đầu tư H&H, cho Vũ Ái Hương (em ruột Hùng) đứng tên, ngay sau đó thâu tóm 30% cổ phần công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng Thái Hưng và thực hiện hàng loạt dự án “ma” nhằm rút tiền từ PTSC.
.
– Từ năm 2013 đến nay, vợ chồng Vũ Chí Hùng, Nguyễn Xuân Trang tiếp tục mở hàng loạt các công ty nhằm hứng dự án và đầu cơ: Công ty CP Khoáng sản Bắc Trung Nam, Công ty TNHH phân phối SNB, Nhà hàng Sen Đông Dương (TPHCM),…
.
Tháng 3/2014, Vũ Chí Hùng tiếp tục được Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gửi gắm vào Bộ Tài chính với chức danh Phó Vụ trưởng, Vụ Quản lý Thuế doanh nghiệp lớn thuộc Tổng cục Thuế – một nơi mà ai cũng biết là cực kỳ béo bở khi có đủ cả quyền lẫn tiền. Sau 8 năm lập thân vào nhà Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Vũ Chí Hùng đang sở hữu giúp bố vợ những khối bất động sản:
.
1. 1.600m2 đất tại TPHCM (600m2 tại Q2 và 1.000m2 tại Q9).
 
2. Biệt thự Vincom Village 04-29 Hoa Sữa, rộng 340m2 tại Long Biên, Hà Nội (theo giấy tờ là do ông Nguyễn Xuân Phúc tặng).
 
3. Nhà mặt tiền tại số 29A Đồng Khởi, Q. 1, TPHCM.
 
4. Căn hộ rộng 260m2 tại Chung cư 59 Ngô Tất Tố, Q. Bình Thạnh, TP.HCM (cũng do ông Phúc tặng – theo giấy tờ) .
 
5. Căn hộ 1A12-5, khu phố Garden Court, Phú Mỹ Hưng, TPHCM.
 
6. Căn hộ T1-0507, chung cư Ruby, Saigon Pearl, TPHCM (do ông em vợ Phó Thủ tướng là ông Trần Công Tấn đứng tên giúp).
 
7. Căn hộ số W511, Khu căn hộ Golden West Lake số 162A Hoàng Hoa Thám, Q. Ba Đình, Hà Nội, rộng 218m2.
 
8. Căn hộ rộng 180m2 tại Chung cư tại Hoàng Đạo Thúy, Hà Nội.
 
9. Căn hộ rộng 127m2 tại Parkson Hùng Vương, 126 Hùng Vương, Q. 5, TP.HCM.
.
Chỉ tính riêng căn Biệt thự Vincom Village và Căn hộ tại Chung cư 59 Ngô Tất Tố mà Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gửi gắm chàng rể đã có trị giá trên giấy là 40 tỷ đồng. Số tiền lớn khổng lồ đó ở đâu ra với sự liêm khiết mà ông Phó Thủ tướng thường rêu rao?
Ngôi Biệt thự Hoa Sữa 04-29 nguy nga tại Vincom Village, Long Biên, Hà Nội, giá 26 tỷ, do ông Nguyễn Xuân Phúc gửi gắm cho vợ chồng con gái
.
Nhà mặt tiền tại khu đất “kim cương” 29A Đồng Khởi, Q. 1, TP.HCM, nghe đâu Lý Nhã Kỳ cũng nhờ Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mà có được 1 căn để mở shop trang sức trên cùng con đường này
.
Bên trong căn hộ siêu sang tại Khu Golden West Lake số 162A Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội
.
Mời độc giả tận mục sở thị bản scan tờ kê khai tài sản, thu nhập của Vũ Chí Hùng vào cuối năm 2013:
Bản kê khai tài sản của Vũ Chí Hùng ký ngày 12/12/2013: Ngoài bất động sản và những khoản qua mặt bố vợ để ký gửi người nhà làm vốn phòng thân, Vũ Chí Hùng còn sở hữu công khai 34.5 tỷ đồng tiền mặt, 9 tỷ cổ phiếu và nhiều tài sản giá trị khác
.
Chỉ nói riêng về cổ phiếu, theo bản khai Vũ Chí Hùng chỉ khai có 9 tỷ, chắc là anh ta quên mất tài khoản số 045C105986 tại công ty cổ phần chứng khoán Dầu khí trị giá 20,89 tỷ đồng và 22,6 tỷ đồng (321.800 cổ phiếu) tại công ty cổ phần Nước Khoáng ĐaKai, chưa kể 3 căn hộ siêu sang Hùng cũng quên khai báo cũng như khoản tiền 28,67 tỷ đang nằm ở Ocean Bank…
.
Thật quá sức tưởng tượng, từ 2 bàn tay trắng khi về nước, chỉ sau 8 năm làm rể của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Vũ Chí Hùng đã vơ vét được khối tài sản có giá trị chí ít là 500 tỷ đồng, mà đấy mới chỉ là chàng rể, chưa kể các quan hệ mật thiết khác của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Chẳng trách thiên hạ bàn tán xôn xao là ngài Phó Thủ tướng chịu chi, sẵn sàng bỏ tiền tỷ để chạy phiếu tín nhiệm.
.
Trong khi nước ta còn nghèo, biết bao gia đình thương binh, liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng và gia đình có công với cách mạng đang không có một căn nhà ra hồn để ở… thì người làm quan như ông Phúc lại ra sức chống lưng cho người nhà bòn rút của cải đất nước để làm giàu cho gia tộc. Hóa ra, bấy lâu dân ta và các đồng chí của ông bị lừa, bởi hành động của ông trái ngược hẳn với những gì ông đang hô hào đầy khí thế trong các hội nghị chống tham nhũng, trên truyền thông báo chí cả nước, trong các cuộc vận động tại các địa phương.
.
Vậy mà, khi được hỏi về nguyên nhân dẫn đến tham nhũng, ông Phúc không ngần ngại chọn phương án đổ lỗi do người dân, cho doanh nghiệp. Vì theo như cách ông nói thì chính người dân, và doanh nghiệp đang làm hư cán bộ. Khẩn thiết đề nghị Ban Nội chính TW, Ủy ban Kiểm tra TW nhanh chóng vào cuộc kiểm tra kỹ càng để có câu trả lời với Nhân dân, không thể để câu hỏi “Sao chỉ có mình tôi?” của ông Trần Văn Truyền mãi không có lời giải đáp!
.
Đọc thêm:
 
 
 

Thứ Tư, 23 tháng 12, 2015

Bùi Tín - Ban Chấp hành TƯ tiếm quyền Đại hội XII?

Ban Chấp hành Trung ương tiếm quyền Đại hội XII?

Bùi Tín
 
Trụ sở đảng Cộng sản Việt Nam tại Hà Nội.

Cuộc họp Ban Chấp hành Trung ương (BCHTƯ) Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) lần thứ 13/Khóa XI đã diễn ra để «đề cử xong Bộ Chính trị khóa XII».

Chuyện thật mà cứ như đùa.

Vì không thể tưởng tượng được cả 2 cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng CS là BCHTƯ và Bộ Chính trị khóa XI lại mù mờ về Điều lệ đảng đến như vậy.
Điều lệ đảng cuối cùng, thông qua ngày 19/1/2011, không hề có điều khoản nào quy định BCHTƯ khóa trước lại họp đề cử, như là bầu chính thức Bô Chính trị khóa tiếp theo. Theo Điều lệ đảng CSVN đó là hoàn tòan thuộc thẩm quyền của Đại Hội XII, sẽ họp vào tháng 1 năm 2016. Trong Chương II ghi rõ:

-Điều 9: Nguyên tắc tập trung dân chủ. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc; giữa 2 kỳ Đại hội, cơ quan lãnh đạo của đảng là BCHTƯ.
Do đó việc BCHTƯ hiện tại bỏ ra 3 cuộc hội nghị TƯ liền để bàn riêng việc giới thiệu, bầu cử, đề cử người vào Bộ Chính trị là việc làm phạm nguyên tắc tổ chức của đảng. Việc này còn sẽ bàn xong vào cuộc họp BCHTƯ lần thứ 14 nữa. Thật không thể hiểu nổi. Công việc này xưa nay là hoàn toàn công việc của Đại hội đảng, khi Đại hội đang họp.

Xưa nay chưa có Đại hội nào mà trước đó BCHTƯ khóa trước lại tổ chức giới thiệu, bầu cử, đề cử danh sách tên tuổi cả 16 hay 17 ủy viên Bộ Chính trị khóa sau, như đinh đóng cột như thế.

Đây là việc làm vượt quá quyền hạn, là một kiểu tiếm quyền, phản ánh tình hình chưa bao giờ có cuộc tranh dành ghế căng thẳng khốc liệt như hiện nay, không những tranh nhau 16 hay 17 chức ủy viên Bộ Chính trị, mà đặc biệt là dành nhau 4 chiếc ghế Tổng bí thư, Chủ tịch Nước, Thủ tướng và chủ tịch Quốc hội.

Cuộc tranh dành ngoạn mục, dơ dáng này biểu hiện rõ bản chất xôi thịt của các cường hào kỳ mục thời phong kiến, dành nhau đến chết cái thủ lợn, hai tai lợn hay cái đuôi lợn giữa đình làng.

Cùng lắm là BCHTƯ khóa trước chỉ bàn và giới thiệu một danh sách nhiều hơn hay ít hơn số ủy viên BCT cần bầu, gợi ý một danh sách tham khảo mà thôi. Không làm cũng được, không bắt buộc vì điều lệ không quy định rõ.

Còn việc xem xét, thăm dò, bầu thử rồi bầu thật số lượng bao nhiêu, bao gồm những ai là do Đại hội XII mới tòan quyền quyết định, không có sự can thiệp của ai hết, vì lúc ấy cả BCHTƯ và Bộ Chính trị cũ đều đã mãn hạn, không còn quyền gì nữa hết. Cho nên nếu cần thì BCHTƯ cũ chỉ giới thiệu một danh sách tạm thời, sơ bộ. Xưa nay, các đại hội đảng cũ đều làm như thế. Không lần nào làm như lần này là BCHTƯ cũ bầu ra Bộ Chính trị cho khóa sau, coi đó là chính thức, tuy chưa công bố nhưng rồi mọi người sẽ biết là những ai do cuộc tranh dành sát phạt nhau giữa các phe phái đặc quyền đặc lợi là rất quyết liệt.

Rõ ràng là các cơ quan lãnh đạo cao nhất đã hoặc là mù tịt, coi thường, vi phạm nghiêm trọng Điều lệ đảng, do đó đã “cầm đèn chạy trước ô tô”, hoặc là cố tình chà đạp điều lệ đảng, nghĩa là đạo Luật cao nhất của đảng CSVN.
Đại hội đảng XII hoàn toàn có quyền phớt lờ cuộc bầu cử tiền chế trơ trẽn này, để tự mình tìm ra và bâu lên những con người mới, có đức có tài, bác bỏ hẳn các cánh cường hào xôi thịt CS tham nhũng vô độ, quay lưng lại với nhân dân, bỏ bê việc “cầm quyền” thật sự do chỉ quen thói “cầm tiền”, cầm phong bì.

Bùi Tín

Thứ Ba, 22 tháng 12, 2015

Lễ Giáng Sinh và Tết Dương Lịch 2016!

Nhân dịp Lễ Giáng Sinh và Tết Dương Lịch năm 2016  
Chúng tôi xin kính gửi đến quý vị lời cầu chúc 

Sức Khỏe, An Bình và Hạnh Phúc

* * *

Ban BT chúng tôi, nhận dịp này xin kính thông báo:
Sau khi được sự hỗ trợ về phần kỹ thuật,    
 trang "Blog Thiện ngôn" đã hoạt động trở lại
như trước đây, trên hệ thống mạng G+.

Trân trọng kính chào.
Xin hẹn gặp Quý vị!

*
  

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2015

v/v trang mạng tự ý chấm dứt hoạt động !


Kính Thông Báo
v/v trang mạng tự ý chấm dứt hoạt động !

Chúng tôi xin tự ý đóng trang Blog Thiện ngôn; Lý do BBT thường xuyên gặp trở ngại trong công việc biên tập (upload) các bài vở lên mạng!

Kể từ ngày 18-6-2015, bài vở của Blog Thiện ngôn được tùy nghi chuyển đăng trên Blog tunhan; mời quý vị theo dõi tại đây: https://tunhan.wordpress.com/

Trân trọng kính chào tạm biệt; Hy vọng sẽ được dịp tái xuất hiện ! 

TM. BBT Thiện ngôn

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2015

Tưởng nhớ Ca Nhạc sĩ Lê Hựu Hà!

Nguồn trích đăng Internet

Tháng Năm, nghe Phượng hoàng gãy cánh

Có một tượng đài Phượng hoàng gãy cánh tại Sài Gòn, đặc biệt trong lòng người yêu nhạc trẻ miền Nam. Tượng đài nằm im lặng trong trái tim mỗi người, nhưng luôn ngân vang với những câu hát trở thành lịch sử âm nhạc hiện đại của Việt Nam – vốn từng mở màn cho một giai đoạn cách tân âm nhạc độc nhất vô nhị.

Thật khó biết là nhạc sĩ Lê Hựu Hà qua đời vào lúc nào. Theo báo cáo pháp y, người ta chỉ tìm thấy ông vào ngày 11 tháng 5, 2003, nhưng dự đoán thời gian qua đời có thể từ 5 ngày trước. Lê Hựu Hà là một người cô đơn. Và những ngày cuối đời của ông lại càng cô đơn hơn khi đi về chỉ một mình, đóng cửa lặng lẽ đọc sách, nghe nhạc, mở ti vi cho có tiếng người chung quanh mình. Chính vì ti vi vẫn mở suốt nhiều ngày liền, nên chung quanh hàng xóm không ai ngờ rằng ông đã qua đời. Chỉ đến khi vài người bạn đến tìm, gọi chuông không được thì sau đó mọi người mới phát hiện rằng ông đã đi rất xa rồi.

Những ngày bạn bè đến thăm nhạc sĩ Lê Hựu Hà lần cuối, Lúc ấy, trời lất phất mưa, mây trĩu xám. Đám tang vừa phải và khiêm tốn, không khác gì tính cách của ông lúc sinh thời. Nhạc sĩ Minh Châu tay cắp giỏ, ánh mắt bàng hoàng “lẽ nào vậy sao?”. Minh Châu vốn là một người yêu say đắm dòng nhạc Phượng Hoàng với những bài hát mà nhạc sĩ Lê Hựu Hà khai sinh. Anh ghé qua thắp nén nhang với chiếc áo sơ-mi bó, quần ống hơi loe, không khác gì thập niên 60, thì thầm “chừng nào chúng ta lại có một Lê Hựu Hà hay Nguyễn Trung Cang?”.

Câu hỏi đó thật khó trả lời. Phượng Hoàng sinh ra từ lửa và hóa kiếp trong lửa, tuần hoàn vô lượng. Nhưng để nhận biết là điều bất khả. Thật khó hình dung nền nhạc trẻ Việt Nam thập niên 60-70 nếu không Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang, Elvis Phương… thì hôm nay sẽ là gì? Ban nhạc Phượng Hoàng của Lê Hựu Hà thành lập năm 1963, với chủ trương dứt khoát của Lê Hựu Hà là “người Việt phải chơi nhạc Việt”, nhằm tạo một khuynh hướng khác biệt với hàng loạt các nhóm nhạc trẻ lúc đó, phần lớn đang cover lại các bài hát ngoại quốc, và lấy tên tiếng nước ngoài như The Enterprise, CBC, The Dreammers, Les Vampires… nhạc trẻ thuần Việt được coi như khai sinh từ đó. Nếu lịch sử âm nhạc Anh Quốc có cột mốc vĩ đại từ cuộc nói chuyện vô tình trên tàu điện giữa Paul McCartney và John Lennon, thì ở Việt Nam cũng có chương lịch sử âm nhạc kỳ thú từ sự kết nối giữa Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang.
Là một ban nhạc rất trẻ, nhưng các sáng tác của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang làm không ít người sửng sốt về tính triết lý sâu đậm trong ca từ. Nếu Nguyễn Trung Cang vung vẩy tung tóe màu sắc hiện sinh với Mặt Trời Đen, Sống Cho Qua Hôm Nay… thì Lê Hựu Hà dàn trãi từ khuynh hướng yêu tha nhân vô kiện của Kant cho đến tâm trạng hippy phản chiến, kêu gọi yêu thương. Trong các phẩm của Lê Hựu Hà, là niềm yêu tha nhân dù khổ đau vẫn phải gìn giữ như một định mệnh “Hãy cứ yêu thương người – dù người không yêu ta”. Từ cảm giác đó, Lê Hựu Hà bước theo lộ trình nhận thức thế giới không khác gì John Lennon từ việc viết về tình yêu cho đến hát về người nghèo khó, về một cuộc sống đầy súng đạn và hận thù. Hãy Nhìn Xuống Chân hay Lời Người Điên… là một dòng phát triển rất đặc biệt của nhạc sĩ Lê Hựu Hà bên cạnh những bài tình ca nhạc trẻ độc đáo của ông. Chỉ tiếc là sau 1975, chế độ kiểm duyệt của Nhà nước Cộng sản đã bóp chết không ít niểm cảm hứng và sự phát triển của nhiều văn nghệ sĩ, trong đó có nhạc sĩ Lê Hựu Hà.

Nhạc sĩ Phạm Duy, lúc sinh thời không phải là người dễ tính, cũng đã phải thốt lên rằng âm nhạc của Phượng Hoàng đầy chất tâm hoặc (psychedelic culture) và phản ánh một tâm thức của thế hệ trẻ không lối thoát trong một xã hội chiến tranh, bất an không hồi kết. Sau tháng 4/1975, khi bị buộc phải đi học tập cải tạo tư duy với các cán bộ cách mạng, nhạc sĩ Lê Hựu Hà cũng phải viết tự kiểm, nhận định rằng âm nhạc của ông là thứ suy đồi và tiểu tư sản thối nát. Nhưng Lịch sử âm nhạc Việt Nam đã may mắn biết mấy khi có được dòng nhạc “thối nát” đó làm nền tảng cho mọi phát triển hiện đại sau này. Lê Hựu Hà cũng như nhiều nhạc sĩ miền Nam tự do khác, cũng được khuyến cáo viết những tác phẩm cho nền “văn hóa mới” – một nền văn hóa mà không ít người vẫn tự hỏi nó sinh ra từ đâu, để làm gì?

Có một điều không may cho nhạc sĩ Lê Hựu Hà là sau 1975, có một trung tâm sản xuất băng nhạc chống Cộng lấy tên Phượng Hoàng, cho ra chương trình và gửi vào trong nước. Trong thời buổi còn chưa đủ sức phân biệt được trắng đen, công an đã coi nhạc sĩ Lê Hựu Hà như là một trong những thành phần sản xuất chương trình đó. Đã vậy, có lúc ông còn bị Sở VHTT Cộng sản những ngày đầu kiểm soát miền Nam nhầm lẫn tên ban nhạc của Lê Hựu Hà và hệ thống tình báo Phượng Hoàng của VNCH. Hai điều đó hoàn toàn không liên quan. Ủy ban tình báo Phượng Hoàng, vốn là tên gọi khác của Intelligence and Operations Coordinating Centre, do giám đốc CIA thời đó là William Colby dựng nên, hoạt động từ 1967 và chấm dứt vào 1973. Vốn đã bất đắc chí vì thời cuộc, việc bị truy vấn bởi công an mật vụ liên tục trong thời gian đó đã khiến nhạc sĩ Lê Hựu Hà trở nên trầm uất, và luôn lo sợ. Thậm chí, khi đi đường, nghe tiếng còi của cảnh sát giao thông cũng làm ông kinh hoảng, dừng xe, dù đó không phải là chuyện của ông. Đã vậy, sau năm 1968, bị gọi nhập ngũ, nhạc sĩ Lê Hựu Hà đến học tại trường Bộ Binh Thủ Đức, rồi làm việc ở Cục Quân Nhu, và dù không cầm súng bắn phát nào, nhưng do mang lý lịch là “ngụy quân” nên sự nghiệp của ông không bao giờ có thể nối tiếp trọn vẹn được nữa.

Những khó khăn từ vật chất cho đến đời sống tinh thần vẫn đeo đuổi đến tận ngày nhạc sĩ Lê Hựu Hà qua đời, dù tài năng của ông vẫn chinh phục mọi giới. Những tác phẩm mới sáng tác sau 1975 như Vào Hạ, Ngỡ Đâu Tình Đã Quên Mình, Vị Ngọt Đôi Môi… luôn gây nên những cơn sốt trong thính giả. Nhưng cũng ít ai biết rằng các bài hát như Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào là bài hát viết cho phim Vết Chân Hoang (chuyển thể từ tiểu thuyết Tuổi Choai Choai của Trường Kỳ), được sửa lời và chút ít giai điệu. Bài Lời Trái Tim Muốn Nói cũng là một ca khúc viết lại một văn bản cũ, trong đó ông lặng lẽ để vào chút tâm tư của mình,qua những câu chữ như “những tháng năm không có ngày vui”.

Năm 1999, khi đang là thành viên trong ban nhạc Phiêu Bồng của nhạc sĩ, tôi cầm lấy những bài hát của ông và đi đến nhiều hãng băng đĩa, đề nghị làm album tác giả, nhưng mọi nơi đều lắc đầu, nói khéo. Chân thật nhất là một biên tập viên của Xí nghiệp băng đĩa nhạc Sài Gòn Audio, Hãng phim Bông Sen, đã nói thẳng thừng “Lê Hựu Hà là một người nhân thân có vấn đề”. Sau này, khi nhạc sĩ Lê Hựu Hà căn vặn hỏi mãi, tôi đành phải kể lại. Ông mỉm cười nhã nhặn và buồn. Sau đó, ngay khi tập bài cho các buổi diễn, tôi đề nghị chơi lại những bài hát nhẹ nhàng, không bị soi mói về quan điểm chính trị như Tôi Muốn, Yêu Em… ông chỉ lắc đầu, cười nhẹ. Khó biết được đằng sau cặp kính của người nhạc sĩ hết sức uyên bác đó là những suy nghĩ gì về cuộc sống khốn khó này. Về sau, nhạc sĩ Bảo Thu “luồn lách” bằng cách nào đó, cũng in ra được một băng cassette pha trộn các tác phẩm của Lê Hựu Hà cùng các bài hát dịch lời Việt của ông, nhưng cũng không dám quảng cáo hay tổ chức ra mắt công khai như các ca sĩ, nhạc sĩ bây giờ.

Giờ đây khi tìm kiếm trên internet, thấy những tấm ảnh sau 1975 của ông, lòng tôi chợt chùng lại. Để mừng một ngày sinh nhật của nhạc sĩ Lê Hựu Hà, tôi “dỗ” ông cho chụp vài tấm ảnh, tự mình design bìa CD cho ông, gom những bài hát làm thành một đĩa master rồi đi tìm Tuấn – biệt danh là Tuấn Chó (do có logo thương hiệu bầy chó đốm), một trong những ông trùm sản xuất CD lậu thời đó ở Sài Gòn, nhờ chép ra phát hành giùm. Thật buồn cười và mỉa mai, khi người nhạc sĩ cầm lấy những bài hát của mình được lén lút phát hành bất hợp pháp ngay trong đất nước của mình, và cười như một hạnh phúc. Tôi vẫn còn nhớ.

Có lần, trong một buổi tập ở nhà, nhạc sĩ Lê Hựu Hà cao hứng đàn và hát cho tôi nghe vài bản nhạc chưa ra mắt công chúng của ông. Những bài hát mang đầy niềm cảm hứng mãnh liệt của một thời Phượng Hoàng trai trẻ nhưng đầy sự buồn chán muốn rời xa cõi nhân thế quá trớ trêu. Hát xong,ông quay qua nhìn tôi, cười trầm “Đừng hỏi, anh biết tỏng em muốn hỏi gì. Anh không muốn đưa những bài hát này ra nữa đâu. Không còn để làm gì”. Im lặng. Tôi vẫn tự hỏi là có bao nhiêu con người tài năng trên đất nước này đã chối từ đại lộ và nói với bạn bè,con cháu mình khi quay về ngõ nhỏ, rằng “không còn để làm gì”.

Cuộc sống của nhạc sĩ Lê Hựu Hà sau năm 1975 hết sức khó khăn, đã vậy ông còn mang nhiều mặc cảm khi người vợ của mình, ca sĩ Nhã Phương, phải đi hát, đi làm tất bật để trang trãi cho cả gia đình. Ông chọn quay lại sân khấu một phần vì yêu âm nhạc, một phần khác vì đó là cách kiếm sống duy nhất của ông. Lê Hựu Hà đã thử làm nhiều thứ như hùn mở quán cà phê, cho thuê băng video… nhưng rồi không có gì tồn tại lâu. Tài sản lớn nhất, và có lẽ vĩ đại nhất đất nước, là bộ sưu tập đĩa nhựa âm nhạc của ông. Tất cả những đĩa quý nhất của thế giới, những ấn bản hạn chế của Rolling Stones, Beatles… ông đều có đủ và luôn làm bạn bè kinh ngạc ngưỡng mộ. Thế nhưng một ngày mùa hè cách mạng, các nhân viên Sở Văn hóa Thông tin đã ập đến lục soát và tịch thu, theo “tố giác của quần chúng nhân dân”. Nhìn từng chiếc xe ba gác chồng chất các bản đĩa mà ông nâng niu, chở ra đi, là một trong những điều suy sụp lớn của đời ông. Nhạc sĩ Bảo Chấn kể rằng đời ông chưa bao giờ hoảng sợ bằng nhìn thấy hình ảnh nhạc sĩ Lê Hựu Hà ngồi gọi rượu đế ra uống một mình, trầm ngâm và khóc. Đó là lần uống rượu duy nhất trong đời của người nhạc sĩ chơi rock, Phật tử và không biết thuốc lá, rượu bia.

Trong một lần đi diễn ở Đông Âu và Nga, sau khi hệ thống Cộng sản ở đây sụp đổ. Lê Hựu Hà mang về những viên đá, lấy ra từ những mảnh vỡ của bức tường ô nhục Berlin, để tặng cho bạn bè. Đêm đó, ngồi hát ở một quán bar nhỏ Old Friends với Phước, tay cao bồi già yêu nhạc rock, nhà thơ hippy Đỗ Trung Quân, Lê Hựu Hà đưa cho mọi người, ông cười, thì thầm với tôi “đây là tự do”. Sau cặp mắt kính cận ấy, là ánh mắt thông minh, ẩn chứa biết bao nỗi niềm và dường như không còn niềm vui nữa, dù miệng vẫn cười.

Lê Hựu Hà đến Nga, ứa nước mắt khi nhìn thấy tự do trở lại trên đất nước tuyết trắng, nghĩ đến phận mình. Ông ra phố Arbat ở Moscow, nơi lừng danh của giới nghệ sĩ. Khi đang đi dạo thì Lê Hựu Hà nhìn thấy một người ngồi bệt dưới đất, đánh đàn và hát tiếng Anh ở phố, dưới chân có hộp đàn mở ra cho khách qua lại bỏ tiền vào. Nhìn thấy cây đàn đẹp và quý, ông dè dặt hỏi xem đàn có bán không. Người nghệ sĩ Nga lạnh lùng nhìn và nói “Anh không mua nổi đâu, vì trên đàn đã có dấu tay của tôi”. Sau này ông được giới thiệu cho biết đó là một nghệ sĩ rất nổi tiếng ở Nga về tài năng cũng như độ kiêu hãnh. Ghé vào một cửa hàng gần đó, nhạc sĩ Lê Hựu Hà đổi một ít tiền lẻ và đến ngồi kế bên. Những bài hát tiếng Anh thời thập niên 60 – 70 mà người nghệ sĩ Nga ấy hát, đã là thứ thuộc nằm lòng của Lê Hựu Hà nên ông vừa nghe, vừa hát bè theo. Cứ mỗi bài hát kết thúc, ông lại bỏ vào hộp đàn một chút tiền lẻ. Người nghệ sĩ Nga từ thái độ lạ lùng, tò mò, dần dần chuyển sang cảm mến. Cho đến khi hết tiền bỏ vào, Lê Hựu Hà đứng lên chào và đi. Người nghệ sĩ Nga bất chợt gọi lại “Anh là ai?”. Lê Hựu Hà cười “Tôi là một người thích nhạc”. “Nếu anh quá thích cây đàn, tôi có thể bán cho anh, vì anh rất thú vị”, người nghệ sĩ Nga nói. “Cám ơn, tôi đã có thứ tôi muốn rồi”, Lê Hựu Hà nói, “hát với anh, tôi đã có lại tất cả những kỷ niệm đẹp nhất mà tôi đã mất”.
Trong đánh giá của giới phê bình âm nhạc, vẫn hay có hiện tượng bất toàn về overrated và underrated. Tức có những nhạc sĩ mà công lao hay khả năng chỉ vừa phải thôi, nhưng vì lý do gì đó luôn được tung hô. Ngược lại, có những người vô cùng quan trọng với lịch sử âm nhạc nhưng lại bị coi nhẹ hay lãng quên. Nhạc Nguyễn Trung Cang hay sĩ Lê Hựu Hà là một trong những trường hợp underrated của Việt Nam, khi giá trị tiền phong của họ xuất hiện ở mọi nẻo của âm nhạc hiện đại, nhưng lại bị phủ lấp bởi truyền thông, quan điểm chính trị hay sự cố tình chôn lấp quá khứ văn hóa vàng son của một niềm Nam VNCH.

Tháng Năm, nghe vua nhạc Blues B.B.King qua đời. Tháng Năm nhớ Chuck Brown, tay guitar có biệt danh là “Godfather of Go-Go”. Tháng Năm rồi cũng góp vào ký ức nhân loại một tượng đài Phượng hoàng Việt Nam gãy cánh, với đường bay chưa trọn. Tượng đài của Lê Hựu Hà, một người tài hoa, khiêm tốn và nhã nhặn, chưa bao giờ dám mong ai dựng tượng mình, nhưng lại đứng trên quê hương mình, trong trái tim của những người yêu âm nhạc, của một nền văn hóa vàng son của miền Nam mãi lấp lánh trong ký ức con người.
———————————
(Kỷ niệm 12 năm, ngày mất của nhạc sĩ Lê Hựu Hà)

Tuan Khanh

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2015

Hậu quả "Quân Bắc chiếm phương Nam"!

  • Nguồn trích đăng Internet!

HIỆN TƯỢNG NGƯỜI BẮC XÃ HÔI CHỦ NGHĨA CHIẾM HỮU TOÀN BỘ PHỐ XÁ THƯƠNG MẠI QUAN TRỌNG Ở SÀIGÒN - KHỐNG CHẾ MỌI LÃNH VỰC TRỌNG YẾU Ở MIỀN NAM.

PHÓ THƯỜNG DÂN

Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng “đánh Tây, đuổi Mỷ” - cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa - thì dân miền Nam (gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) vẫn thấy một sự thật. Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mãi trọng yếu của Sàigòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh Sàigò. và các khu phố sầm uất nhứt, vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc Cộng sản - từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong - cũng toàn là người của xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Đắc, Phạm thị Trước. Hiện nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cât lại. nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán dồ nhập cảng v. v. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ. Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sàigòn thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN (Tất nhiên là vợ con, thân nhân cán bộ lớn).

Những gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra). Các cô chiêu đãi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ - dĩ nhiên - vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc. Cán bộ, công nhân viên trọng yếu - cũng đều là người Bắc - trừ một số cán bộ gốc miền Nam tập kết - theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam - thì cũng kể họ là người XHCN miền Bắc.         
Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới - từ Trung ương đến địa phương - từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xả gần - đều do đảng viên người miền Bắc XHCN - nắm giữ. Những công Ty dịch vụ có tầm cở, những công Ty thương mãi sản xuất lớn - điển hình là một công Ty vận tải và du lịch có đến 6000 xe hơi đủ loại, chủ nhân cũng là người Bắc XHCN. Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mãi, sản xuất - cũng do người miền Bắc XHCN nắm giữ.

Đó là sự thật trước mắt ai cũng thấy. Còn những vàng bạc, kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thuơng nghiệp - nhà cửa của tù cãi tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại, những luợng vàng thu được từ những người vuợt biên bán chánh thức - tài sản những người thuộc diện tư sản - toàn bộ tài sản nầy từ Saigòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam - được đem đi đâu? - Không ai biết.  
     
Thông thường - những của cãi nầy phải được sung vào công quỷ - để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẻ. Thế nhưng - sự thật trước nhứt - là các ông đem chia chác nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN (Đọc Đất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang). Ông lớn lấy tài sản lớn. Ông nhỏ - nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết… đem cho công Ty ngoại quốc thuê. Điều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy - vì lo sợ cái gì đó - bèn đem “ bán non” những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cãi tạo đã sang tay đến 3 đời chủ. Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu - không ngoại lệ. Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại - là những biện pháp vá víu. Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN.  

Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà người dân thường có nhà cửa phố xá đều bị “ giải phóng” ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách: Đuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xả tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung (chủ nhà chịu không nổi… phải bỏ đi), đổi tiền để vô sản hoá người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ, để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê… Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào “mua” nhà Saigòn với giá gần như cho không… và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Saigòn.

Mang xe tăng T. 54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên “xẻ dọc Trường Sơn” bằng máu, nước mắt và xác chết… vào xâm chiếm miền Nam. Chiêu bài là “giải phóng” nhân dân miền Nam - nhưng sự thật khó chối cãi được - là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai, của cải, đuổi dân Saigòn (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) ra khỏi Thủ Đô bằng nhiều chánh sách khác nhau - để bây giờ chính các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi - những ông chủ công Ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc. (Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn tấn Dũng đang du học Mỷ là trường hợp điển hình). Như vậy hành vi nầy gọi là gì? Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh - một mình đối diện với luơng tâm thuần luơng của mình - các ông tự gọi mình đi.   
Đến thời “mở cửa” - cơ hội hốt tiền còn nhiều hơn gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương - đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công Ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đuờng xá, xây cất đại công tác. Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỷ tiền tệ quốc tế - những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn, no bóc ké. Nhiều công trình vừa xây cất xong đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ diển hình: Một bệnh viện gần chợ “cua” Long Hồ - quê hương của Phạm Hùng - nước vôi còn chưa ráo đã muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được.
Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực, chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mãi ở những khu thương mãi quan trọng nhứt - là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ lớn đã trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực - những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử. Trong khi dân chúng miền quê - nhứt là miền Nam - ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn - đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt. Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì nghèo cùng cực.            

Nhà văn - bác sĩ Hoàng Chính - gọi thời kỳ sau 75 là thời “Bắc thuộc”:
- “Năm Bắc thuộc thứ 2: Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh. 
- Năm Bắc thuộc thứ 6: Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán.
- Năm Bắc thuộc thứ 12: Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười. “
Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.

BÔ MẶT THÔN QUÊ MIỀN NAM  
Có nhìn tận mắt, nghe tận nơi, mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 32 năm dưới chế độ cọng sản. Để được trung thực - người viết ghi những điều thấy và nghe - không bình luận - tại những nơi đã đi qua. Thôn quê miền Nam - những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện. Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối. Đường sá có tu sửa phần nào. Đường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái Nứa, Cái Chuối xã Long Mỷ, VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. “Cầu tre lắt lẻo”, cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ). Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cáibè, Cái răng) nay không còn thấy nữa.

Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ - chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn - còn nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy - dọc theo bờ sông Long Hồ - một số nhà gạch nhỏ mới cất. xen kẻ những mái lá bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà Cú (Vĩnh Bình), chợ Thầy Phó (Vĩnh Long) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Đường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi.          

Hai bên đường xe chạy từ Mỷ Tho, Cao Lãnh, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ. Nhìn chung - có một sự thay đổi rõ rệt. Nhà cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đã biến mất hoặc thụt sâu vào trong, không còn thấy nữa. Không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai hoằng, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu, vườn mận Hồng Đào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương.    
Dưới sông - từ kinh Vỉnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang - hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đở sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau.

Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế - cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay đổi. Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá. Basa, cá điêu hồng v. v. ở dọc bờ sông khá dài. Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh. Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tìền và sông Hậu - người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỷ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời: “ Đi lấy Đại Hàn, Đài Loan hết rồi ông ơi! “ Tôi hỏi thêm: “ Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập. các cô gái nầy không sợ sao ông? - “ Biết hết - mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Đại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông. Biết đâu gặp may. “Câu chuyện gái Việt lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan hiện không ai là không biết.

Tờ Tuổi trẻ - số ra ngày mùng 1 Tết năm Đinh Hợi - trong bài: “ Nỗi đau từ những con số”- có nói đến số phận của 65.000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Đài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con. Cũng do tờ báo nầy: “Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang “bày hàng” để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến luợt mình “ Và cũng do tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết: “Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Saigòn để dự tuyển. Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái. Dich vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng. Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện. Thậm chí - những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm”.

Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ: Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần luợt vào trong. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời: ‘ “Đó là những người con gái đi lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn. Hàng bên trong là những đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa”. Tôi nhìn kỷ các cô gái nầy tuổi rất trẻ khoản chừng 18 đến 20, đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện - tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Đây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề.  

Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức “ môi giới hôn nhân lậu”- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma Cau để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục, các cô gái làm điếm, hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhãn xảy ra hằng tuần - thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11, Sàigòn.

Cho dù chánh thức hay lậu, hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An. Hậu quả gần giống nhau. Nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Đài Loan, Đại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn - ban ngày làm nô dịch, ban đêm phục vụ tình dục rồi bán vào động mãi dâm lấy tiền gở vốn lại. (Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Đài Bắc là một bằng chứng) Còn lậu thì bán thẳng vào ổ điếm. Biết bao nhiêu thảm cảnh, biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại.
Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu, lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời!

Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập. nầy khi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt?      

Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người - những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN. Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để đuợc giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn?
Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau: Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hoá bừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng, đất đai canh tác bị thu hẹp, Dân số gia tăng. Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào. Nông dân miền Nam thiếu đất canh tác. Các cô gái miền Tây quẩn bách vì không có việc làm kinh niên - cuộc sống vô vọng mịt mờ - có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Đại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ. Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS (sinh sau 75) - những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ. thang giá trị bị đảo lộn nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước. Do vậy - khi bị dồn vào đường cùng họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn. Nhưng động lực chánh là nghèo.

NGHÈO.

Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Đại Hàn và Đài Loan… để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - vựa lúa nuôi sống cả nước - sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy - nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) ? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê Việt Nam - thì tỷ lệ ĐBSCL năm 1998: ĐBSC: 37%. ĐBSH: 29% . Năm 2002: ĐBSCL: 13 %. ĐBSH: 9%. (Nhà x. b Thống kê - Hànội, trang 13 - LVB trích dẫn) Dù theo tiêu chuẩn nào: tiền tệ (tính bắng tiền hay bằng gạo) - mức sống (bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa) - ĐBSCL vẫn nghèo hơn ĐBSH - bởi lẽ khi nghèo về lương thực - thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hoá.     

Đó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa học. Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nhìn tận mắt, nghe tận nơi của người viết: Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều - cái nghèo của một nông dân, nhà dột nát. khi trời mưa lúc ban đêm, không có chỗ để nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp, trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc… Cái nghèo của một người đi mượn tiền, muợn gạo. tới ngày hẹn không tiền trả. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp, cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ, mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân.
Tục ngữ bình dân có câu: Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời. - Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chày lưới. ở sông Long Hồ. Đời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy: nghề đi nhủi tép. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay (2007) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te. Đời ông nội - nghèo! Đời cha nghèo! Đời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo - không đổi đời cho người nghèo thành giàu. Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo. Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác - còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền. trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết : “Nông dân đã nghèo, đất đã kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được? “

MIỀN NAM - 32 NĂM DƯỚI CHẾ ĐÔ C. S.

Kinh tế Việt Nam - trong đó có miền Nam - có chút tiến bộ - so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Đối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt, cầm lồng đèn đỏ… Và điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương trình y tế, giáo dục (hiện nhiều người nghèo không có tiền đóng học phí bậc Tiểu học cho con) - các chương trình tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rổng tuếch? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể. Và hiện tại - muốn phát triển công nghiệp - nhà cầm quyền địa phương - theo lệnh Đảng - mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo ngược. Lòng dân phẩn uất, kêu la than khóc. Oán hận ngút trời xanh! (19 Tỉnh miền Nam biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàigòn). Như vậy có gọi là phát triển không?

KẾT LUẬN

- 32 năm nhìn lại: Người ta thấy miền Bắc đã “giải phóng” dân Sàigòn ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau. “Giải phóng” miền ĐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đãi từ nhiều thế kỷ. “Giải phóng” quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển… “ Giải phóng” phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm “vợ nô lệ”, đi làm điếm ở Kampuchia, TháiLan. 

- 32 năm nhìn lại: Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ. Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website (2003) - bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con súc vật ở Singapour (2005). Chỉ trong năm 2005 - có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc. (Theo UNI CEF - LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam)  

- 32 năm nhìn lại: Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L’expresse ngày 29-8-2002: “Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc - người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở “

- 32 năm nhìn lại: Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam - khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc.
Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Một trí thức Việt Nam lên tiếng cảnh cáo: “ Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc. Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu. (Trích Người việt hải ngoại - Nguyễn văn Trấn)

PHÓ THƯỜNG DÂN

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2015

Đọc báo Vẹm! - Số lần: 426

Đọc báo Vẹm 426

do Nguyên-Khôi và Hoàng-Tuấn thực hiện.

Xin mời quý vị cùng theo dõi tại đây: Đọc báo Vẹm ‘online’ : http://docbaovem.net/  

– See more at: http://www.docbaovem.net/#sthash.7IgDnij5.dpuf