Wikipedia

Kết quả tìm kiếm

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

blog Trâm nguyễn - Ngàn Giọt Lệ Rơi!


Tram Nguyen

Được chia sẻ công khai  -  27-03-2014
 
Ngàn Giọt Lệ Rơi
Nỗi đau thương của người dân sau khi cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam:

Thứ Ba, 11 Tháng 1 Năm 2011
Quyển Ngàn Giọt Lệ Rơi đã ra mắt độc giả, Mỹ Dung đã “viết dùm” cho thân phụ, để bên kia thế giới ông nhẹ đi phần nào mặc cảm, và giúp những người cộng sản còn sống thức tỉnh, hầu góp phần không muộn vào công cuộc phục vụ quê hương.

Chiều ngày 16 tháng Năm vừa qua, tại Little Saigon, nam California (Hoa Kỳ) có buổi ra mắt sách “Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu” của Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng. Trong phần một quyển sách, tác giả trình bày những dữ kiện dẫn tới việc Tổng Thống Thiệu từ chức. Đó là việc quân dân ở Cao Nguyên và Vùng I di tản trong hỗn loạn vì hoảng sợ cộng sản, sau khi Tổng Thống Thiệu ra lịnh rút các Sư Đoàn Bộ Binh, Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến về phía Nam.
              
Cũng chiều ngày 16/5, tại San José, bắc California có buổi ra mắt sách “Ngàn Giọt Lệ Rơi” của bà Đặng Mỹ Dung. Sự hoảng hốt của đồng bào miền Trung hồi giữa tháng Ba 1975 đã lan tới Hawaii, nơi Mỹ Dung và đứa con trai 5 tuổi đang sống êm đềm với chồng là John Krall -Thiếu Tá Hải Quân Hoa Kỳ.

Một ngày nọ, Mỹ Dung nhận được điện thoại từ Paris của một người xưng tên Jean Sagan, tự nhận là bạn thân của cha cô tức ông Đặng Quang Minh, Đại sứ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại Moscow. Ông bảo Mỹ Dung phải tìm cách đưa mẹ và gia đình rời khỏi Việt Nam. Ông cho biết, những người bạn của ba cô sắp tiến vào Sài Gòn. Mỹ Dung hỏi tại sao những người bạn của cha cô vào Sàigòn mà lại đưa mẹ mình xuất ngoại. Ông Sagan trả lời: đừng thắc mắc dài dòng, hãy đưa mẹ cô rời Sài Gòn ngay. Mỹ Dung hỏi ông ta làm cách nào vì không người Việt nào được phép rời đất nước trong lúc này. “Cô hãy nói với chồng đến gặp Đô Đốc Gaylor Tư Lịnh Quân Lực Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương, ông ta là người tốt sẽ giúp đỡ”.

John không thể nhờ Đô Đốc Gayler can thiệp vì anh đã không báo thượng cấp sự việc cha vợ là cán bộ cao cấp của Việt cộng. Nay vì sự an nguy của mẹ vợ, John đã liều lĩnh đến Sài Gòn mà không có phép của cấp chỉ huy. Sứ mạng được vợ giao gặp nhiều khó khăn, vì lẽ John không còn làm việc ở Nam Việt Nam. Một ngày nọ, từ bao lơn nhà mẹ vợ nhìn xuống đường, John phát hiện có kẻ lạ mặt, rõ ràng là cán bộ Việt Cộng lảng vảng trước nhà. Có lần họ gõ cửa, mời bà đến chỗ hẹn để nhận tin tức chồng bà - ông Đặng Quang Minh, nhưng bà từ chối. Những chỉ dấu đó cho thấy cá nhân bà đã bị theo dõi và nguy hiểm như ông Sagan đã nói. John phải làm liều, đến Tòa Đại Sứ Mỹ báo cáo cha vợ là Đại Sứ Cộng Sản Việt Nam tại Moscow. Chi tiết trên được trình thượng cấp, nhưng họ không tìm thấy danh tánh ông đại sứ trong hồ sơ lưu trữ, có lẽ phần lớn đã bị hủy bỏ, phải chuyển về Tổng Hành Dinh CIA ở Langley Virginia để kiểm chứng.

Trong lúc John nóng ruột về việc ra đi của mẹ vợ, thì bà lại lo sợ về sự rủi ro của con rể, John có thể bị Việt cộng bắt cóc. Bà điện thoại báo cho con gái “Chồng con đã làm tốt mọi việc, sự có mặt của nó ở Sài Gòn không còn an toàn nữa, con phải khuyên chồng con trở về Hawaii ngay”. Mỹ Dung liền gọi cho chồng, John bảo vợ phải trình bày ngay sự việc với Đô Đốc Gaylor. Cô điện thoại đến tư thất viên tướng chỉ huy cao cấp nhứt của Quân lực Mỹ ở Thái Bình Dương. Tùy viên cho biết ông đang ngủ vì mệt mõi sau gần 18 giờ làm việc liên tục. Mỹ Dung xin được nói chuyện với phu nhân đô đốc. Sau khi lắng nghe, bà nói “Tôi phải đánh thức, ổng không thể ngủ trước một sự việc như thế này.” Mỹ Dung tường thuật cho ông nội dung cuộc điện đàm giữa cô với ông Sagan ở Paris. Hôm sau, một viên chức dân sự mà Mỹ Dung tin là người của CIA đến tiếp xúc với cô. Cuộc giao tiếp giữa cô và CIA bắt đầu từ khởi điểm này. Hai tuần sau, mẹ và hai em Mỹ Dung, là những người Việt Nam di tản đầu tiên đến đảo Guam.

Cuối tháng 7/1975, Đại Sứ Đặng Quang Minh hướng dẫn phái đoàn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam từ Moscow đến Nhựt tham dự hội nghị của tổ chức các lực lượng chống bom nguyên tử. Được tin này, Mỹ Dung cùng con đến Tokyo để gặp lại thân phụ sau 21 năm xa cách. Cuộc tái ngộ diễn ra trong nước mắt lẫn đắng cay. Ông Minh ôm con vào lòng, nước mắt dàn dụa “Con gái yêu của ba. Ba không có lời nào để nói hết nổi thương nhớ dành cho má con và các con”. Sau đó, nói đến cái chết của đứa con trai út Hải Vân, ông không dằn được sự tức tối: “Người ta nói với ba, nó bị Mỹ giết và chính những người đó đã lừa má con rời Sài Gòn trước khi ba trở về. Ba không muốn nhắc đến Hải Vân nữa”. Song Mỹ Dung tìm cách giải tỏa định kiến của ông: “Liệu ba có tin vào sự thật hay chỉ muốn nghe những lời bịa đặt dối trá. Em con không bị ai giết cả, nó là phi công trong Không Lực Việt Nam Cộng Hòa, chết vì tai nạn trong khi huấn luyện. Ba nên tìm hiểu cái chết của em con từ chúng con, chớ không phải từ sự nói dối của chánh quyền cộng sản của ba”.

Mỹ Dung vuốt ve tự ái của ông “Con rất hãnh diện vì ba là một người Việt Minh, bị tù đày cũng vì lý tưởng Việt Minh, nhưng con không chấp nhận sự hiện diện của chánh quyền Hà Nội ở miền nam”. Ông tiếp lời “Rồi con sẽ còn tự hào về ba, tin tưởng ba sẽ làm hết sức mình vì đồng bào miền nam. Chúng ta không phải là người chiến thắng duy nhứt. Người Mỹ cũng thắng cuộc chiến này”. Mỹ Dung không hiểu thân phụ mình hàm ý gì nên cãi lại: “Chỉ một ít những tên hoạt động phản chiến, chớ không phải tất cả người Mỹ. Chúng con không vui vì đã mất Miền Nam”. Mỹ Dung phân trần “Không ai dám nói thẳng như thế với một đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng nhưng con may mắn là con của ba, con lợi dụng lợi thế đó để tâm tình với ba”. Ông đồng ý vì mẹ con nó đã đồng lao cộng khổ với ông trong 9 năm kháng chiến, họ đã hấp thụ được ở ông lòng yêu nước. Nhưng giờ đây lòng yêu nước không còn giống nhau, song họ vẫn thương yêu và tôn trọng chí hướng của nhau.

Vì tình máu mũ, Mỹ Dung hỏi “Anh con giờ đây ra sao?” Ông đáp: “Nó không còn ở trong quân đội, nó làm việc ở đài truyền hình. Sau khi về Hà Nội, ba và anh con sẽ trở về quê hương”. Nghe nói “trở về quê hương” Mỹ Dung xót xa, cảm thấy có sự phân cách lớn trong tình cảm gia đình. Giờ đây lá cờ đỏ của cộng sản đang tung bay tại Sài Gòn. Đó là quê hương của ba cô, chớ nơi đó không còn là quê hương của mình nữa. Ông Minh nói tiếp “Khôi nhớ thương con. Con phải về thăm gia đình”. Mỹ Dung dứt khoát “Không, thưa ba. Con không thể tìm nguồn vui riêng khi đồng bào miền nam bị chánh quyền Hà Nội đối xử tàn tệ”. Ông đè nén tự ái để bày tỏ ước vọng với con “Ba muốn má con về sống với ba”. Mỹ Dung trả lời “Má con cũng không mong gì hơn là được sống bên ba”. “Vậy con ráng đưa má con sang Paris để gặp ba.

Trở về Hà Nội, ông Đặng Quang Minh xin Tổng Bí thư Lê Duẩn cho phép ông được sang Paris công tác để thuyết phục vợ con trở về Việt Nam. Lê Duẩn lớn hơn ông Minh một tuổi, cả hai đều ở tù Côn Đảo từ 1940 đến 1945, sau đó tham gia kháng chiến chống Pháp đến 1954. Năm 1960 ông Duẩn trở thành Bí Thư Thứ Nhứt Đảng Lao Động Việt Nam, còn ông Minh được cử làm Đại Sứ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ở Moscow. Về phần Mỹ Dung, theo hướng dẫn của cha, cô liên lạc với Phan Thanh Nam quyền Đại Sứ Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ở Paris can thiệp với Bộ Ngoại Giao Pháp cấp visa cho mẹ cô. Bà đã đến kịp lúc với chồng vào tháng Chín 1976. Sau 22 năm xa cách, ông bà được hội ngộ ở tuổi cuối đời, Mỹ Dung mong muốn ba má được thoải mái trong không khí gia đình. Nhưng ông luôn bị nhân viên Sứ Quán Việt cộng ở Paris bám sát. Mỹ Dung khéo léo gợi ý ông về hưu, ba mẹ hủ hỉ bên nhau trong tuổi về già tại một nước nào đó không phải Việt Nam cũng không phải Hoa Kỳ, con cháu cũng tiện tới lui chăm sóc khi ông bà già yếu.

Ông phản đối ý kiến của con, cho đó là thái độ vô cùng ích kỷ. Ông phải trở về nước, hoàn thành nhiệm vụ giúp miền nam tái thiết, để phát triển vững mạnh trong một thời gian năm bảy năm, trước khi thống nhất với miền bắc. Trong khi ông lạc quan ở Paris, thì số cán bộ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sau chiến thắng 30/4/1975 đã thấy rõ thân phận của mình, như câu nói của người xưa “Giảo thố tử, tẩu cẩu phanh” (Thỏ chết thì chó săn bị làm thịt) nên họ âm thầm tổ chức một bữa tiệc đơn sơ để tuyên bố giải tán Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, rồi ngậm ngùi chia tay. Đảng và chính quyền cộng sản không thèm cử đại diện đến tham dự. Giờ đây họ chỉ xử dụng những phần tử nào tiếp tục con đường “chống Mỹ cứu nước” như Phan Thanh Nam ở Paris.

Vụ án gián điệp Dragon Magic (Con Rồng kỳ diệu): Mỹ Dung được cộng sản đón tiếp niềm nở. Nhờ đó cô có dịp đặt chân vào trụ sở Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và văn phòng bà Nguyễn Thị Bình trong thời gian diễn ra cuộc đàm phán Paris. Mỹ Dung đã tiếp xúc với Đại sứ Hà Nội Võ Văn Sung và phát hiện một số cán bộ Việt cộng nằm vùng ở Paris. Những ghi nhận về nhân sự và hoạt động của cộng sản Việt Nam tại Paris đều được Mỹ Dung báo cáo cho CIA. Trong khi đó, Phan Thanh Nam và các đồng chí ra sức “động viên” Mỹ Dung thuyết phục bà mẹ trở về nước. Y tuyên dương hành động trở về của bà là một chiến thắng lớn của cộng sản Việt Nam, là cái tát vào mặt Tổng Thống Gerald Ford và Chính phủ Mỹ đã cho CIA bắt cóc bà đem về Mỹ.


Sau lần cha mẹ gặp nhau ở Paris, Mỹ Dung vẫn trì chí tìm mọi cách để ông bà và anh em đoàn tụ. Cô giữ mối liên lạc với những người cộng sản bạn của ba cô ở Paris, ông có uy tín lớn đối với họ. Việt cộng tin tưởng Mỹ Dung với tình thương cha sâu đậm, cô sẽ giúp họ thu thập những tin tức kỹ thuật và tình báo từ chồng cô. Lần hồi qua sự giao tiếp, cô được Đại Sứ Võ Văn Sung giới thiệu với Chủ Tịch hội Việt Kiều Yêu Nước ở Mỹ và Đinh Bá Thi, đại sứ cộng sản Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc. Qua Phan Thanh Nam cô gặp Trương Đình Hùng và một số cơ sở cộng sản hoạt động ở Hoa Thạnh Đốn. Hùng nhờ cô chuyển một số tài liệu mật do Ronald Humphrey (một viên chức cao cấp của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ được phép đọc tài liệu mật) lấy trộm từ bộ Ngoại giao. Mỹ Dung trao những tài liệu mật này cho CIA để tráo thành tài liệu giả chuyển đến Tòa Đại sứ Hà Nội ở Paris. Humphrey có vợ là cháu của một nữ cán bộ Cộng Sản Việt Nam, ông liều lĩnh hành động để Hà Nội sớm cấp giấy xuất cảnh cho vợ con.

Để lấy lòng Mỹ Dung, Phan Thanh Nam giúp cô gởi quà về cha và anh cô ở Sài Gòn. Cô nhét dấu đô la trong quà để giúp anh cô có tiền để vượt biên. Việc này được sự tán đồng của CIA, họ cũng muốn đón tiếp Khôi vào Hoa Kỳ, vã lại cô còn giúp họ thu thập những tin tức về các hoạt động của Hà Nội ở Pháp và Mỹ. Tuy nhiên việc chuyển những tài liệu mật của Bộ Ngoại Giao Mỹ cho cộng sản liên quan đến gián điệp, đây là công tác quá nguy hiểm. Các viên chức FBI luôn cảm thấy bức rứt khi thấy Mỹ Dung đi xa vào một điệp vụ rất nguy hiểm mà cô phải thường xuyên đối đầu. Còn Bộ Tư pháp nhận thấy việc làm của Ronald Humphrey gây tác hại lớn cho nước Mỹ, ông ta đã thâm nhập rộng rãi vào các thông tin đầy nguy cơ đối với nền an ninh quốc gia...

Đối với FBI và Bộ Tư Pháp, điệp vụ của Mỹ Dung lớn đến mức phải chấm dứt ngay một cách tuyệt đối. CIA phản đối mãnh liệt, họ không muốn việc làm của họ bị tiết lộ và Mỹ Dung sẽ không còn cơ hội cung cấp cho họ những tin tức quý giá của cộng sản. Cuối cùng thẩm phán Bill phải đích thân giải quyết, ông nhận thấy tầm quan trọng của vụ án này và tìm mọi cách để truy tố kẻ phạm pháp ra tòa. Đó là vụ án gián điệp Dragon Magic.

Giờ đây, Mỹ Dung phải đối đầu với một tình thế vô cùng nguy hiểm cho bản thân và gia đình, nếu cô ra tòa làm nhân chứng. Tuy nhiên, cô sẳn sàng với điều kiện là chính phủ Mỹ phải bảo đảm cho cha và anh cô được vào nước Mỹ, sau đó mới xúc tiến việc bắt giữ và truy tố Humphrey và Trương Đình Hùng. Yêu cầu của cô được Bộ Tư Pháp chấp thuận. Sau đó, Mỹ Dung nhờ Đ/s Đinh Bá Thi chuyển thư của cô đến Lê Duẩn cho biết mẹ cô không còn sống bao lâu nữa vì chứng bệnh nan y. Ước nguyện của bà là được gặp chồng lần cuối và đứa con trai thân yêu đã xa lìa bà trong suốt 23 năm dài.

Mười ngày trước lễ Giáng Sinh 1977, ông Đặng Quang Minh được phép đến Luân Đôn gặp vợ. Trong hai tuần ở Anh, ban ngày ông sống với vợ con, ban đêm ông phải về trụ sở đảng của ông. Mỹ Dung và em gái lợi dụng mọi cơ hội, trong thân tình phụ tử mong muốn ông về hưu, đoàn tụ với gia đình với lý lẽ: Ba đã cống hiến gần hết cuộc đời cho dân tộc. Nay đất nước đã hòa bình, ba 68 tuổi rồi, chúng con muốn ba về sống với má và chúng con. Ông thối thoát: ba đã chiến đấu 46 năm cho đất nước, giờ đây đất nước vẫn còn cần ba góp sức xây dựng, tái thiết miền nam trong một thời gian dài, để còn thống nhất đất nước. Ba không thể bỏ cuộc, đào thoát sống ở nước ngoài. Mỹ Dung trả lời “Con đâu có muốn ba đào thoát, chúng con chỉ muốn ba về hưu, chọn một nước trung lập nào ba thích, dành quảng đời ngắn ngủi còn lại để má và chúng con được cận kề bên ba. Đó là lẽ công bằng”. Ông dứt khoát: ba là người Việt Nam, sanh ra ở Việt Nam và sẽ chết ở Việt Nam. Ba được đến đây gặp má và chúng con là vì đảng và nhà nước tin tưởng ba. Nay ba ở lại, ba sẽ mất hết uy tín, các con thương ba, chắc các con không để ba mất danh dự. Ý định bắt cóc ông Đặng Quang Minh, đưa ông bà về Mỹ của Mỹ Dung không thực hiện được. Việc này chỉ làm ông đau khổ thêm ở tuổi già và sẽ đi đến quyên sinh.

Theo dõi cuộc đối thoại, mẹ Mỹ Dung thấy ai cũng có lý. Bà kêu hai con vào phòng, khuyên con đừng lên án cộng sản để hành hạ ba con, vì ông là người cộng sản. Ba đã nói với má, dù sống xa các con, song lúc nào ông cũng vẽ ra trong đầu hình ảnh đẹp về các con. Nay ông đã thấy các con hạnh phúc. Hãy để ba con được vui trọn vẹn trong những ngày đoàn tụ này. Đừng nói đến chánh trị nữa. Má con mình đã thương yêu, thì phải thương yêu cho trót, để ông làm hết bổn phận đối với đồng bào.
Nghe lời mẹ, Mỹ Dung xin ba tha lỗi vì những ý nghĩ ngu dại của mình. Ông trả lời “ba luôn tha thứ, nhưng các con đừng bao giờ nhắc đến những ý nghĩ đó trước mặt má con, chỉ làm má con buồn”.
Ngày về nước, ông ôm bà từ giả, rồi lầm lủi bước thẳng ra xe, không quay lại nhìn người vợ thân yêu lần cuối. Sau đó Bộ Tư Pháp tiến hành thủ tục bắt giữa và truy tố Ronald Humphrey và Trương Đình Hùng về tội làm gián điệp. Vụ án được tòa xét xử từ đầu tháng Năm 1978, Mỹ Dung tuyên thệ làm nhân chứng chính của chính phủ Hoa K ỳ. Quyển Ngàn Gi ọt LệRơi ấn bản Anh Ngữ (A Thousand Tears Falling) kết thúc tại đây.

Câu chuyện bà Krall tức Mỹ Dung kể là sự thật, nhưng bản thảo không được CIA giải mật. Họ chỉ cho phổ biến những thông tin nào giúp làm sáng tỏ vụ án, song không phương hại đến nền an ninh quốc gia. Nổ lực để bản thảo được giải mật kéo dài quá lâu, vì thế 15 năm sau A Thousand Tears Falling mới được xuất bản (1995). Còn ấn bản Việt ngữ mãi đến 2010, nhân kỷ niệm lần thứ 35 ngày Quốc hận 30/4 mới chánh thức ra mắt đồng hương chúng ta. Người viết xin được đề cập đến những trăn trở cuối đời của một người cộng sản chiến thắng, tức thân phụ tác giả Quyển Ngàn Gi ọt LệRơi. Đoạn hậu của gia đình bà chưa được kể trong hồi ký kết thúc năm 1978.

Những trăn trở của người cộng sản chiến thắng: Sau 45 năm đi làm cách mạng, ông Đặng Quang Minh đã chiến thắng, giải phóng đồng bào miền nam khỏi trại trập trung khổng lồ của Mỹ Ngụy. Nhưng những người thân yêu nhứt đã rời bỏ quê hương, di tản sang Mỹ. Ngày trở về miền nam ông đã thấy xót xa vì vợ con mình đã không còn tin ở mình thì làm sao đồng bào có thể đặt tin tưởng ở mình nữa.

Vì lòng yêu nước ông đã chiến đấu chống thực dân Pháp. Nhưng trong cuộc chiến chống Mỹ, đồng bào miền nam lại được Mỹ bảo vệ để có cuộc sống phồn vinh, điển hình là ngôi nhà khang trang của vợ ông ở Sài Gòn. Các con gái ông có chồng Mỹ, chồng Mỹ Dung hết lòng thương yêu vợ nên đã liều lĩnh về Sài Gòn cứu mẹ vợ, và đã sắp xếp để ông có dịp gặp lại vợ con. Nhờ đó họ có dịp nói với ông một sự thực: miền nam đang sống trong tự do thanh bình, cộng sản lại gây ra cuộc chiến đẫm máu. Ngày Việt cộng tiến vào miền nam, đồng bào từ Bến Hải trở vào lũ lượt bỏ nhà, tìm mọi cách chạy trốn cộng sản trong hỗn loạn. Sau 30/4/1975 đồng bào phải mạo hiểm vượt biển bằng thuyền con để lánh nạn cộng sản.

Ông Minh bắt đầu ngờ vực về đảng cộng sản của ông. Từ giả vợ con, ông về nước với ý nguyện tái thiết và phát triển miền nam vững mạnh trong một thời gian dài trước khi tái thống nhứt đất nước. Đó chỉ là ước vọng mà thôi.
Cộng sản xâm lược miền nam, bần cùng hóa nhân dân và trả thù mà thôi. Hậu quả là miền nam lâm vào cảnh cùng khổ, lần đầu tiên trong lịch sử, đồng bào trong Nam bị đói, phải ăn độn bằng khoai bắp, bo bo. Mọi nhu yếu phẩm đều khan hiếm trầm trọng. Người dân miền nam bị áp đặt một chế độ độc tài chuyên chính còn tàn bạo hơn thời thực dân Pháp. Cả triệu người bị đưa vào các trại tù cải tạo chỉ vì tội bảo vệ tự do, kinh doanh làm giàu cho đất nước. Vợ ông Minh đã ra đi trước và cương quyết không nghe lời ông về nước. Nếu bà ở lại chờ ông về hoặc nghe lời ông hồi hương, thì giờ đây ông càng khổ tâm nhiều, làm sao có thể cứu được bà, một người đã phản bội cách mạng, phản bội chồng, cho các con lấy chồng Mỹ.

Đối với miền nam, ông bất lực không thực hiện được ước mơ cuối đời của mình. Đối với người vợ tào khang tấm mẳn, đã sát cánh bên ông trong những ngày kháng chiến chống Pháp gian khổ, rồi tần tảo nuôi con để ông đi làm cách mạng suốt cả đời. Bà chỉ xin ông một việc nhỏ: “Giúp con, thằng Khôi gặp lại tôi”. Ông cũng không làm được. Đứa con trai lớn đã sống bên ông từ lúc sơ sanh đến tuổi 50, cuối cùng cũng đến chào từ biệt ông, lên đường vượt biên tìm tự do, để gặp lại mẹ và các em. Tại quê hương chỉ còn nấm mộ của đứa con trai út tại nghĩa trang Biên Hòa. Đồng bào miền nam còn tri ơn nó đã hy sinh vì tổ quốc, vì dân chủ tự do cho đồng bào; chớ có mấy ai nhớ đến một người cộng sản như ông.

Nhớ lại ngày Lễ Giáng sinh 1977 ở Luân Đôn, ông kể cho các con nghe về quảng đời thanh xuân: Năm 16 tuổi, ba coi việc bảo vệ tổ quốc là một vinh dự lớn của thanh niên, nên đã tham gia cách mạng. Năm 26 tuổi ba gặp người con gái tâm đầu ý hợp là má con. Ông bà nội ngoại đều tán đồng, cho phép ba cưới má con. Từ đó đến nay, má con suốt đời chung thủy, hết lòng chăm lo cho các con, đúng như ý ba mong muốn.

Có thể nói, trong việc lập gia đình ông Đặng Quang Minh có sự lựa chọn đúng. Nhưng trong việc phục vụ dân tộc, ông đã chọn lý tưởng sai. Cha mẹ vợ của ông là những người yêu nước không có khuynh hướng cộng sản. Vì thương con rể, ông bà không tán đồng cũng không phản đối chí hướng của con. Sự mâu thuẫn này kéo dài qua ba thế hệ. Con gái và các cháu ngoại của ông bà không ưa cộng sản nhưng lại hết lòng thương yêu chồng và cha của họ là cộng sản. Hậu quả đắng cay là gia đình ly tán.

Ông Đặng Quang Minh là người yêu nước tham gia đảng cộng sản. Và khi Việt cộng chiến thắng, ông đem sự đau thương về cho vợ con nói riêng và đồng bào đất nước nói chung. Ông trở về trong trăn trở, lỡ khóc lỡ cười, “Mình là cộng sản hay là nạn nhân của cộng sản?” Làm sao đồng bào hiểu được! Ông chỉ còn trông cậy vào con, có thể giúp ông giải bày nổi lòng. Mỹ Dung nói với chủ nhiệm báo Việt Luận “Lần cuối cùng gặp ba tôi ở Luân Đôn, tôi có cho ba tôi biết là mấy chục năm nay tôi viết nhựt ký. Ba tôi có v ẻ ưu tư rồi khuyên tôi nên viết thành sách cho con cháu trong gia đình biết về tổ tiên ông bà của chúng nó. Tôi nhớ hoài câu nói ngắn ngủi nhưng thành thật vô cùng của một đảng viên cộng sản “Con viết dùm cho ba, hoàn cảnh chưa cho phép những người như ba viết hồi ký, chỉ có chánh phủ mới được viết hồi ký thôi con à”.

Quyển Ngàn Giọt Lệ Rơi đã ra mắt độc giả, Mỹ Dung đã “viết dùm” cho thân phụ, để bên kia thế giới ông nhẹ đi phần nào mặc cảm, và giúp những người cộng sản còn sống thức tỉnh, hầu góp phần không muộn vào công cuộc phục vụ quê hương. Cuộc đời của những thành phần yêu nước bị cộng sản lợi dụng, lừa dối là một bài học hữu ích, phải được truyền giảng sâu rộng.

Ngàn Giọt Lệ Rơi chuyên chở những ý nghĩa gì?
Tại sao những người như ông Đặng Quang Minh không được viết hồi ký mà chỉ có chánh phủ mới được viết? Điều này chứng tỏ ở Việt Nam không có tự do ngôn luận. Những người cộng sản yêu nước mà không được viết, thì những người không cộng sản làm sao có thể bày tỏ nguyện vọng của mình để xây dựng đất nước! Những người yêu nước viết hồi ký, họ sẽ nói sự thật, vì mục tiêu đấu tranh của họ trong sáng: vì quyền lợi tối thượng của dân tộc Việt Nam. Trong khi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam phục vụ Nga Tàu thì làm sao họ dám nói sự thật phủ phàng đó, nên phải gian dối và lừa gạt để khỏi mang tiếng phản bội dân tộc.

Mỹ Dung phát hành quyển Ngàn Giọt Lệ Rơi đúng vào ngày Mother Day, có lẽ để tưởng nhớ người mẹ. Bà là mẫu người phụ nữ Việt Nam điển hình với các đức tính truyền thống “tam Tòng tứ Đức”. Lúc trẻ bà sống với song thân được giáo dục tốt, nên bà đã dạy các con biết cách cư xử ở đời sao cho phải đạo làm người. Khi “xuất giá tòng phu”, từ 18 tuổi đến gần 40 tuổi, bà luôn ở bên chồng đang chiến đấu chống thực dân Pháp. Năm 1954, chồng tập kết ra Bắc, bà thay chồng nuôi dạy các con. Đến khi cộng sản chiến thắng trong đó chồng bà, bà quyết định theo con. Đó có phải vì “phu tử, tòng tử” chồng đã chết nên phải theo con?

Chồng bà yêu nước nên chống thực dân đế quốc, để nước nhà được độc lập tự chủ, chớ không phải chống Pháp Mỹ để mang vào đất nước chế độ độc tài tàn bạo phi nhân của cộng sản Nga Tàu. Vì vậy, bà coi như chồng đã chết từ thời điểm này. Sau đó hai lần gặp lại chồng, bà đối xử với ông cho trọn đạo nghĩa phu thê… Nhưng dứt khoát không trở về với chồng, mà trong tâm tư bà coi như đã chết. Dù ông có quyền cao chức trọng, bà cũng coi mình đã trở thành góa phụ từ khi Miền Nam lọt vào tay cộng sản. Bà là biểu tượng của người Việt Tự Do ở hải ngoại, không bao giờ chấp nhận hòa giải với những người cộng sản phản bội dân tộc.

Còn tác giả quyển Ngàn Giọt Lệ Rơi? Trong lời nói đầu quyển A Thousand Tears Falling, cựu Bộ Trưởng Tư Pháp Hoa Kỳ - ông Griffin Boyette Bell đề cao “Yung Krall đúng là một công dân Mỹ vĩ đại. Tình yêu nước Mỹ đã dẫn dắt cô trở thành nhân chứng then chốt trong vụ án gián điệp mang tên Con Rồng Kỳ Diệu (Magic Dragon) mà cô biết chắc chắn sẽ đặt cô và đứa con trai nhỏ của cô trước vô cùng hiểm ngay”.

Ngoài sự can đảm chấp nhận hiểm nguy, Mỹ Dung còn chấp nhận sự đau lòng của đứa con chí hiếu. Việc đứng ra làm nhân chứng của cô sẽ làm tiêu tan hy vọng của bà mẹ ngày đêm mong được gặp lại trưởng nam của bà. Hành động của Mỹ Dung còn tác hại đến địa vị của người cha ở Việt Nam. Ngoài ra cô còn phụ lòng CIA, cơ quan đã đáp lại yêu cầu của cô đưa mẹ và các em rời Việt Nam và sau đó tạo điều kiện giúp ba má cô gặp nhau hai lần. CIA sẵn sàng ủng hộ và mong muốn cô khước từ việc làm nhân chứng trước tòa án.

Vậy động lực nào khiến cô được đề cao là công dân Mỹ vĩ đại, có phải chồng cô là người Mỹ, cô có bổn phận phục vụ nhà chồng? Điều đó chỉ đúng một phần, theo suy nghĩ của người viết, vì cô là một người Mỹ gốc Việt - một người Việt Nam ngay thẳng. Sở dĩ cô hành xử như vậy, vì cô là một “người Việt Nam biết điều”. Chấp nhận hiểm nguy, hy sinh tình cảm cá nhân, chỉ với tấm lòng thành muốn được “đền ơn trong muôn một” đối với đất nước Hoa Kỳ.

Bài học của người lãnh đạo cộng sản: Tác giả Ngàn Giọt Lệ Rơi không đề cập nhiều đến nhân vật Jean Sagan - người đã đưa gia đình Mỹ Dung dính líu ít nhiều đến vận mạng đất nước trong ba năm 1975-1978. Người viết liên tưởng đến buổi điều trần của Đại Sứ Martin trước Tiểu Bang Điều Tra Đặc Biệt của Ủy Ban Liên Hệ Ngoại Giao Quốc Tế Hạ Viện Hoa K ỳ ngày 22/1/1976. Một dân biểu đã nhắc lại lời tuyên bố của Ngo ại Trưởng Kissinger ngày 5/5/1975  “cho đến ngày 27/4/1975 Hoa Kỳ vẫn còn nhiều hy vọng cộng sản Bắc Việt sẽ không có ý chiến thắng về quân sự mà họ sẽ thương lượng một giải pháp chính trị với Dương Văn Minh”. Vị dân biểu đã hỏi Đ/s Martin “Sự kiện nào đã khiến Hoa Kỳ nghĩ chuyện đó có thể xảy ra?

Đ/s Martin trả lời: Sở dĩ Ngoại Trưởng Kissinger tuyên bố như vậy trong cuộc họp báo ngày 29/4/1975 ngay sau khi Hoa Kỳ di tản khỏi Sài Gòn là vì “Hoa Kỳ đã liên lạc với nhiều người trung gian đại diện cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Bắc Việt và có được một vị trí để trao đổi quan điểm qua lại”. Đ/s Martin còn tiết lộ ngày 5/5/1975 Ngoại Trưởng Kissinger “có nói là người Nga đã giúp đỡ chúng ta di tản người Mỹ và Việt, đồng thời họ cũng cho biết có một khả thể nào đó cho sự thay đổi về thương lượng chính trị cho hai bên”.

Ông trình bày tiếp, “hồi cuối tháng Tư 1975, VNCH đã nhanh chóng đáp ứng những đòi hỏi của cộng sản Bắc Việt như là điều kiện thương thuyết: Tổng Thống Thiệu từ chức, Tổng Thống Hương người kế vị cũng từ chức. Họ chỉ nói chuyện với Dương Văn Minh, đòi hỏi này cũng được thỏa mãn, Dương Văn Minh lên làm tổng thống. Sài Gòn thỏa mãn tất cả những đòi hỏi của phía cộng sản. Tuy nhiên như Ngoại Trưởng Kissinger đã tuyên bố “vì những lý do gì không rõ, cộng sản Việt Nam thay đổi ý kiến vào đêm 27/4 và thi hành kế hoạch quân sự của họ”. (Cao Văn Viên, Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hòa (Nguyên tác The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong) Viet Nam Bibliography xuất bản, 2003, Tr.278-279).

Qua dẫn chứng trên, người viết có thể suy đoán Sagan là một giới chức ngoại giao Pháp có cảm tình với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, với nhân dân Việt Nam hoặc đó chính là cán bộ cao cấp của Mặt Trận Giải Phóng. Họ tạo ra mối ân tình giữa Đại sứ Mặt Trận Giải Phóng tại Moscow với Hoa Kỳ, có thể sẽ giúp giải pháp kết thúc chiến tranh của Hoa Kỳ thành tựu, qua sự hòa giải giữa hai bên miền nam theo tinh thần Hiệp Định Paris 1973.
Kế hoạch trên đã bất thành trong đêm 27/4/1975 vì chủ trương của Hà Nội là dùng bạo lực quân sự thôn tính miền nam. Mâu thuẫn cuối cùng trong chiến tranh Việt Nam vào hồi kết thúc cuối tháng Tư 1975 không phải giữa Việt Nam Cộng Hòa và Mặt Trận Giải Phóng mà là giữa Mặt Trận Giải Phóng và Hà Nội. Vì thế Mặt Trận Giải Phóng không thể tiếp xúc riêng với Hoa Kỳ để kết thúc chiến tranh bằng giải pháp Dương Văn Minh. Để Mặt Trận Giải Phóng từ bỏ ý định này, Hà Nội sẽ không ngần ngại cầm giữ bà Đại Sứ Mặt Trận Giải Phóng và cả con rể, để áp lực ông Đặng Quang Minh. Đó là lý do tại sao ông Sagan yêu cầu Mỹ Dung phải đưa mẹ và em gái rời khỏi Việt Nam. Và đó cũng để trả lời thắc mắc trên của Ngoại Trưởng Henry Kissinger.

Kế hoạch hòa bình cho Việt Nam không tiến hành được, Miền Nam lọt vào tay cộng sản bắc Việt. Song Hoa Kỳ đặc biệt là Đ/đốc Gayler tin tưởng qua tình cảm giữa Mỹ Dung và người cha Đại Sứ Mặt Trận Giải Phóng có thể giúp hồi hương những tù binh chưa được cộng sản phóng thích năm 1973 và số phận hơn 2000 quân nhân Mỹ còn mất tích ở Việt Nam. Đ/đốc Gayler là giới chức cao cấp nhứt của Mỹ đã tiếp xúc sơ khởi với số tù binh vừa hồi hương, có thể ông được báo cáo còn nhiều tù binh chưa được phóng thích.
Cuối 1975, dân biểu Sonny Montgomery tiểu bang Mississippi đến thăm Việt Nam. Qua vị dân biểu này Hà Nội cho biết họ không còn giam giữ người Mỹ nào cả. Tuy nhiên Hoa Kỳ vẫn hy vọng qua trung gian của Mỹ Dung, giới lãnh đạo Hà Nội có thể thương thảo với Hoa Kỳ về việc thiết lập bang giao.

Năm 1977 khi Tổng Thống Carter lên cầm quyền, Hoa Kỳ chánh thức thương thảo với Hà Nội việc bình thường hóa bang giao hai nước. Cuộc đàm phán diễn ra ở Paris từ tháng Năm 1977, Hà Nội vẫn khăng khăng đòi Hoa Kỳ số tiền 3,250 triệu đôla mà họ gọi là tiền bồi thường chiến tranh, coi đó là điều kiện tiên quyết trước khi đặt vấn đề thiết lập bang giao. Họ còn tổ chức gián điệp lấy cấp tài liệu mật của Mỹ và khuyến dụ bà Đặng Quang Minh hồi hương để hạ nhục Mỹ. Trong khi Bắc Kinh sẳn sàng thiết lập bang giao với Hoa Kỳ vì lợi ích hai nước, sau khi Hà Nội phát động chiến dịch đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp, đụng chạm trực tiếp đến quyền lợi của hàng triệu người Việt gốc Hoa. Hành động này như cái tát đập vào mặt Trung Cộng  khi cộng sản Việt Nam bày tỏ thái độ thù nghịch với Bắc Kinh, thành lập nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa/Việt Nam theo đúng khuôn mẫu Liên Xô. Tháng Chín 1978, Hà Nội ký Hiệp Ước Hợp Tác Hữu Nghị với Liên Xô. Ba tháng sau, Trung Cộng chánh thức thiết lập bang giao với Hoa Kỳ.

Ba thập niên sau, ông Nguyễn Dy Niên cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao Hà Nội (2000-2006) bày tỏ sự luyến tiếc về việc “thực hiện những chính sách mà đáng lẽ nếu tỉnh táo hơn, thì bây giờ Việt Nam đã mạnh lắm và cường thịnh lắm”. Ông nhận xét “Thời gian sau 30/4/1975 là cơ hội cực kỳ tốt mà chúng ta chậm khai thác. Mỹ muốn bình thường hóa quan hệ với ta. Nhưng rất tiếc là chúng ta còn dè dặt – cũng một phần do ràng buộc của lý luận - nên đã bỏ lỡ, không tận dụng được cơ hội ấy. Từ 1976 ta bắt đầu đàm phán với Mỹ, mình đưa ra cả một cục xương thì làm sao họ nuốt nổi, đó là bồi thường chiến tranh”.
 Đó là việc đối ngoại, ông Niên còn nêu lỗi lầm khác nữa là “thay vì khoan dung và khéo léo trong đối nội, chúng ta lại có chính sách như cải tạo công thương nghiệp. Những chính sách ấy từ khi áp dụng ở miền bắc đã thấy trục trặc rồi, vậy mà vẫn tiếp tục thực hiện ở miền nam”.
(www.nguyendynien/thoisu-dcpt)

Lý luận của những người cộng sản cuồng tín trước cũng như nay không bao giờ thay đổi, thì làm sao họ tỉnh táo được, dù Milovan Djilas - lãnh tụ cộng sản nổi tiếng của Nam Tư đã thức tỉnh, từng cảnh cáo:
“Cộng sản là một thế lực suy tàn. Có người còn nói đó là một xác chết, nhưng là một xác chết có thể lôi ta cùng xuống mồ với nó”.//
 
 

Sàigòn- Ngày Quốc hận 30-4; tri ân Thương Phế Binh VNCH!

Tri-ân Thương-phế-binh VNCH tại Sàigòn

From: Đong Phan, Ginh Tran chuyển tiếp; Cám ơn -tunhan-
Subject: Fw: Tri-ân Thương-phế-binh VNCH tại Sàigòn !!!
Chuyển tiếp đến các cụ và con cháu đọc cho biết.  Dưới đây là 2 links (tin tức, phim phóng sự dài của buổi đó) :

http://www.youtube.com/watch?v=WQBcCzEEooI  (phần một)
http://www.youtube.com/watch?v=cUCOYYu7vYc   (phần 2 và cuối)

Tổng cộng  khoảng 30 phút. (Hãy xem kỹ tấm bạt lớn được treo trên tường, sau lưng những người phát biểu ở phút 11,11 và cuối của phần 1, để xác nhận những bức hình đăng phía dưới không phải là bị Photoshop)  Hi Hi Hi.
Dưới đây là 2 links (tin tức, phim phóng sự dài của buổi đó) :



Tri-ân Thương-phế-binh VNCH tại Sàigòn !!!   Black April 28, 2014:

Buổi họp mặt tri ân phế binh QLVNCH tại nhà thờ Kỳ Đồng – Sài Gòn:  

image-1_2_5
Tin Nóng, Tin Lạ! Sinh Hoạt Tháng Tư “Bên Thua Cuộc”: Trên 400 Thương Phế Binh VNCH Được Tri Ân Ngay Tại Sài Gòn! Dưới Tấm Hình Người Chiến Sĩ VNCH Được Người Em Gái Hậu Phương Choàng Vòng Hoa Chiến Thắng Trước 75!

Tin nhanh về: Buổi họp mặt tri ân phế binh QLVNCH tại nhà thờ Kỳ Đồng – Sài Gòn

TPH-2*Người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu cũng có mặt tham dự, tại buổi họp mặt ông đã hát tặng cho các TPB-QLVNCH những bài hát ông đã sáng tác trong tù trong 37 năm trong nhà tù CSVN…


Trương Minh Đức (Danlambao) - Sáng nay 28/4/2014 tại nhà thờ 38 Kỳ Đồng – Sài Gòn đã diễn ra buổi họp mặt tri ân cho các Thương Phế Binh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa (TPB-QLVNCH). Buổi họp mặt năm nay gồm có 424 người trong danh sách đăng ký, tuy nhiên số lượng người tham gia lại được phát sinh thêm gần 10 người. Trong buổi họp mặt còn có nhiều chức sắc Tôn giáo tai khu vực phía Nam tham dự. Người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu cũng có mặt tham dự, tại buổi họp mặt ông đã hát tặng cho các TPB-QLVNCH những bài hát ông đã sáng tác trong tù trong 37 năm trong nhà tù CSVN…Một số hình ảnh về Buổi họp mặt tri ân phế binh QLVNCH tại nhà thờ Kỳ Đồng – Sài Gòn:

 Ngày Tri ân Thương Phế Binh VNCH tại Sài Gòn: “TPB/VNCH Chúng tôi đã không bị bỏ quên!”

*“Chúng tôi tổ chức (buổi kỷ niệm này) làm cho nhiều người (trong chính quyền) không thích. Họ chính trị hóa việc bác ái, lòng chia sẻ này nhưng chúng tôi không ngại và không sợ bị hiểu lầm!”

VRNs (28.4.2014) – Sài Gòn – Vào lúc 8 giờ, ngày 28.04.2014, Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và Tu viện DCCT Sài Gòn (38 Kỳ Đồng, Quận 3 – Sài Gòn) đã tổ chức ngày “Tri Ân Quý Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa” cho khoảng 440 (danh sách chính thức 421) thương phế binh (TPB) VNCH.

Ngoài hơn 400 thương phế binh, buổi tri ân còn có sự hiện diện của cha Giám tỉnh Vinh Sơn Phạm Trung Thành, cha Giuse Hồ Đắc Tâm, Bề trên và Chánh xứ Gx. Đức Mẹ HCG Sài Gòn, Quý vị Chức sắc trong Hội đồng liên tôn, người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu và những người yêu mến Công lý và Hòa bình…
image-1_2_2

Khai mạc ngày tri ân, cha Giám tỉnh Vinh Sơn Phạm Trung Thành chia sẻ:

“Quý TPB đã lớn lên trong chiến tranh và bị mất mát rất nhiều trong thời chiến. Những người bạn của tôi đã nằm xuống hoặc có những người bạn cũng khuyết tật như các anh. Gần 40 năm qua không phải chúng ta quên nhau nhưng hoàn cảnh đã không cho chúng ta có thể được gặp nhau. Người ta bảo rằng, tuổi chúng mình hay nghĩ về quá khứ, điều này không sai. Tất cả những gì của quá khứ, tuổi trẻ, đau thương, mất mát luôn ở mãi trong tâm hồn và trong cuộc đời mỗi người. Nhưng ngày hôm nay, Giáo hội Công giáo mừng ngày Đại lễ Chúa Phục Sinh, Chúa Giêsu đã đi qua đau khổ và cái chết, và Chúa đã phục sinh. Nơi thân xác Phục sinh của Chúa vẫn còn đó những dấu đinh, những vết hằn của đau khổ nhưng Ngài đã Phục sinh và mang niềm vui, niềm hạnh phúc và sự sống vĩnh cửu đến cho nhân loại. Chúng tôi tổ chức ngày Đại lễ Phục sinh này như muốn chuyển đến các anh sứ điệp ấy. Chúng ta không thể xóa những ký ức của mình, nhưng hôm nay chúng ta gặp nhau trong niềm vui, hạnh phúc và bình an.
” Nhiều ông thương phế binh có mặt từ rất sớm Tình nguyện viên giúp đỡ quý ông từ khu vực để xe vào trong sân tham dự Ngày tri ân Khu vực sân Hiệp nhất, quý ông ngồi uống nước, trao đổi với nhau về kỷ niệm xưa Cha Vinhsơn Phạm Trung Thành chia sẻ với quý ông thương phế binh.

Trong suốt 40 năm qua, quý TPB VNCH đã sống trong sự đau khổ và trong sự lãng quên, dĩ nhiên không phải tất cả mọi người nhưng một ít nào đó trong xã hội đã lãng quên họ. Dù bối cảnh xã hội này thế nào đi chăng nữa, thì tự đáy lòng họ rất tự hào là quân lực VNCH. Ông Tâm xúc động: “Tôi là TBP VNCH.

Ba mươi mấy năm chúng tôi sống bên lề xã hội, nay được Dòng Chúa Cứu Thế và các ân nhân giúp cho chúng tôi hội tụ được gặp gỡ nhau. Tôi rất cảm động vì không ai nhớ chúng tôi mà quý vị lại nhớ đến chúng tôi, [vì thế] chúng tôi không bị bỏ quên. Tôi mong nhà nước đừng phân biệt [đối xử chúng tôi] và hãy nhớ rằng chúng tôi đã hy sinh một phần thân thể cho đất nước này. Tôi tự hào là một người lính VNCH.”
Suốt hơn 40 năm, Quý TPB sống trong sự què quặn, đui mù… nhưng họ vẫn vươn lên, để tiếp tục sống, không phải sống trong những ngày tháng dài đằng đẵng vô nghĩa nhưng họ đã xây dựng cho chính bản thân, cho gia đình họ trong những công việc hằng ngày như bán vé số, chạy xe ôm… để tìm kiếm mưu sinh. Một ý chí, một nghị lực sống trong một xã hội tưởng chừng như bị bỏ quên.

Điều này làm cho ông JB Nguyễn Hữu Cầu, người tù thế kỷ nhận định rằng, những ngày tháng ông sống trong tù không đáng gì so với những ngày tháng bạn bè ông, Quý TPB què quặt ấy đã bươn trải ngoài xã hội và ông khẳng định, họ không ăn bám xã hội. Ông JB Nguyễn Hữu Cầu nghẹn ngào nói: “Tôi ở tù 32 năm và 5 năm cải tạo. Sự nhục nhằn khốn khổ của tôi đôi khi tôi thấy nó lớn lao lắm. Bạn bè của tôi đã mất một phần thân thể hoặc vĩnh viễn thì ba mươi mấy năm tù của tôi mà thân xác tôi còn lằn lặn, thì so với mấy anh tôi là đàn thấp, đàn dưới vì những sự hy sinh của các anh. Chúng ta phải gạt bỏ tất cả để đến với nhau. Và chúng ta là những người còn sống ở hai phía phải kính phục những người TPB bất kể Miền Bắc hay Miền Nam vì họ đã bỏ thân xác vì đất nước này, nên chúng ta không được phân biệt đó là lính cộng sản hay lính quốc gia gì hết. Những người bạn của tôi bị cụt chân hay cụt tay không có ăn bám xã hội và đã đi bán từng tờ vé số, không tham ô tham nhũng… Dù cụt chân cụt tay nhưng những người bạn TPB của tôi vẫn ngẩng mắt nhìn trời vì tin có Đấng thiêng liêng phù hộ cho họ nên họ vững chắc [để] sống.”
image-1_2_0Dù Quý TPB bị què quặn về thân xác nhưng các ông vẫn bước đi những bước chân hết sức vững chãi. Giọng nói của các ông vẫn dõng dạc và sang sảng khi cha Antôn Lê Ngọc Thanh mời từng người giới thiệu về tên, số quân, số KBC, binh chủng, trận đánh bị thương ngày tháng năm… Những chất giọng đầy cương quyết ấy khẳng định họ đã theo đuổi một lý tưởng đẹp phục vụ cho Tổ quốc, cho người dân.

Ngài Chánh sự Kim Lân, thuộc đạo Cao Đài chân truyền tòa thánh Tây Ninh nhấn mạnh đến công lao hy sinh của Quý TPB VNCH. Ngài Chánh Trị Sự Kim Lân nói: “Sự hy sinh của quý ông TPB không bao giờ quên lãng trong quá khứ. Sự hy sinh này sẽ còn tồn tại mãi với thời gian. Vì đó là sự hy sinh chánh nghĩa [được] đặt trên nền tảng nhân bản, công lý và tinh thần cao thượng. Sự hy sinh của quý ông cho đất nước, cho dân tộc sẽ được lịch sử tôn vinh, vinh danh và sẽ đặt trong một vị trí xứng đáng trong lòng dân tộc VN.”

Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa tiếp lời: “Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã mấy ngàn năm. Dầu ở chế độ nào chúng ta cũng phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn vì đã thấm nhuần trong truyền thống đạo đức của dân tộc, và biết quý trọng bậc đàn anh, chú bác đã hy sinh một phần xương máu để gìn giữ đất nước cho dân tộc, cho Tổ Quốc.”

Trong tâm tình đó, ông Vũ Văn Phi từ Lâm Đồng vào Sài Gòn tham dự ngày Tri ân Quý TPB, ước ao: “Sau 39 năm, tôi ước ao nhà nước đừng chia rẽ lính VNCH và bộ đội vì chúng ta là công dân VN.”

Cha Giuse Hồ Đắc Tâm, Bề trên và Chánh xứ Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp bộc bạch: “Chúng tôi tổ chức [buổi kỷ niệm này] làm cho nhiều người không thích. Họ chính trị hóa việc bác ái, lòng chia sẻ này nhưng chúng tôi không ngại và không sợ bị hiểu lầm, vì tôn chỉ của Dòng Chúa Cứu Thế là loan báo Tin mừng cho người nghèo, người bị bỏ rơi và loại trừ. Chúng tôi nghĩ, Quý TPB là những người đã bị bỏ rơi và bị loại trừ trong suốt gần 40 năm qua, bị bỏ rơi về mọi phương diện nên chúng tôi có bổn phận loan báo Tin Mừng, đem niềm vui, niềm an ủi đến cho quý TPB. Chúng tôi chỉ có tấm lòng, còn việc đóng góp của những người có lòng hảo tâm quan tâm đến số phận của quý TPB.”

Cha Giuse Hồ Đắc Tâm, Bề trên Tu viện, kiêm chánh xứ Gx. Đức Mẹ HCG Sài Gòn ngồi cùng với một số chức sắc tôn giáo bạn   Một cộng tác viên đeo huy hiệu với dòng chữ “Tri ân quý ông thương phế binh 2014″ cho một thương phế binh
Nhóm Thánh kinh cầu nguyện góp vui tiết mục văn nghệ

Trước khi tổ chức ngày kỷ niệm này, BTC rất lo lắng cho phần quà của mỗi người, những người đi xa sẽ hỗ trợ, cách tiếp đón ra sao… Cha Giuse Đinh Hữu Thoại, Chánh văn phòng Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế VN, và là Ban tổ chức cho hay: “Kinh nghiệm năm ngoái, BTC đón nhận hơn 100 TPB nên năm nay ước chừng con số tiếp nhận sẽ hơn khoảng hơn 200. Nhưng chỉ trong vòng ghi danh từ ngày 15 – 22.04 thì con số bất ngờ lên đến 421 vị TPB. Chúng tôi khá lúng túng trong vấn đề kinh phí dự trù nên chúng tôi tiếp tục kêu gọi từ nguồn đóng góp hảo tâm của tất cả anh chị em sống ở VN và ở Hải ngoại. Chỉ một vài ngày sau, không ngờ sự quảng đại của quý vị ân nhân đã đáp ứng [được kinh phí] cho vấn đề tổ chức. Có thể nói ngày hôm nay, ngoài 422 vị ghi danh chính thức, còn có thêm 1o vị đến sau ghi danh chậm, do đó tổng cộng khoảng 423 vị. Mỗi quý thương phế binh có phần quà trị giá 1.000.000 VNĐ, những vị ở quá xa BTC sẽ hỗ trợ thêm một phần chi phí di chuyển. Tạ Ơn Chúa.”
Cha Giám tỉnh thốt lên: “Điều kỳ diệu đó do Chúa và Đức Mẹ phù hộ và lo lắng cho chúng tôi. Chúng tôi chỉ biết cộng tác với ơn của Chúa. Chính Chúa đã dùng chúng tôi, để trao ban những món quà của Chúa cho anh em.”

Về khâu tiếp tân có hơn 60 các anh chị từ các Hội đoàn trong Giáo hội cũng như xã hội đảm nhiệm. Thời tiết ở Sài Gòn rất oi bức nhưng các anh chị rất quảng đại đã đến rất sớm để phục vụ mặc cho những giọt mồ hôi nhễ nhãi trên khuôn mặt. Mọi người trong ban tiếp tân không phải là những người chuyên nghiệp nhưng họ đã làm rất tốt và nhiệt tình. Tất cả mọi người trong BTC đã đón tiếp Quý TPB trong bầu khí trân quý, kính trọng, tôn trọng và trong tình yêu thương nên họ rất bình an và vui tươi… cho dù họ di chuyển đi lại rất khó khăn.

Niềm vui mừng ấy được Ông Lê Bững bày tỏ: “Sau thời gian bị thương ở chiến trường ở Quảng trị năm 1972. Đến năm 1975 đất nước xảy ra biến cố và cho đến ngày hôm nay đã 39 năm, nhưng đến hôm nay, tại Dòng Chúa Cứu Thế, anh em chúng tôi mới được nhắc đến và được thương yêu. Ngày hôm nay, tôi xin nhận nơi đây một sự kiêu hãnh và vinh dự trong buổi tri ân này.”
Chúng tôi quan sát thấy, nhiều Quý TPB hớn hở vui mừng vì họ nhận ra cùng đơn vị với nhau, ngồi cùng nhau và hàn huyên.

Trong phần giao lưu văn nghệ, các anh chị trong ban tiếp tân đã góp vui những bài hát như Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, Việt Nam! Việt Nam!… Đặc biệt ông JB Nguyễn Hữu Cầu tặng cho Quý TPB bài hát “Bỏ quên thân xác” do ông sáng tác từ nhà tù khi nghĩ về Quý TPB VNCH.

Trước khi kết thúc ngày tri ân, BTC tiếp đón 2 nhân viên của Văn phòng Caritas Tổng Giáo phận Sài Gòn, và họ cho biết, Văn phòng có nhã ý hỗ trợ lắp chân giả miễn phí cho Quý ông TPB nào có nhu cầu. Kết thúc ngày tri ân, cha Antôn Lê Ngọc Thanh đánh giá: “Mọi sự tốt sự rất tốt đẹp. Cám ơn Chúa vì sự quảng đại của Thiên Chúa lớn hơn sự lo lắng của con người. Những đóng góp của quý vị ân nhân ở xa cũng như ở trong đất nước VN đã làm cho buổi gặp mặt được thành công mỹ mãn. Mọi người rất vui. Điều chúng tôi ghi nhận được trong buổi này, thứ nhất, chính là Quý TPB được gần nhau hơn và, họ nhận ra họ được yêu thương và không bị bỏ rơi. Họ rất xúc động và muốn điều này được tiếp tục.

Cha Chánh xứ Hồ Đắc Tâm đã hứa nếu không có gì trục trặc thì giờ này năm sau sẽ được tổ chức. Thứ hai, hơn 60 anh chị em trẻ như No-U, Văn phòng Công lý và Hòa bình, Giêsu yêu bạn… rất nhiệt tình, mỗi người một việc để công việc được trọn vẹn. Điều thứ ba, chúng tôi nhận thấy sự đóng góp của người Việt trong nước cũng khá, tuy chưa được một nửa của chương trình nhưng điều này cho thấy người Việt ở trong nước đã bắt đầu quan tâm tích cực đến các vấn đề xã hội. Và như cha Hồ Đắc Tâm nói, đây là một hoạt động nhắm đến người nghèo bị bỏ rơi hơn trong suốt gần 40 năm qua. Bây giờ chúng ta làm công việc này, còn ai ghép chúng ta làm chính trị chính em thì đó là công việc của họ.”

Ông Hoàng văn Phong cám ơn: “Đây là dịp anh em lính VNCH chúng tôi có dịp quy tụ lại với nhau. Chúng tôi chân thành cảm ơn Quý cha DCCT và các mạnh thường quân đã cho chúng tôi buổi giao lưu rất là ý nghĩa này. Trong cuộc chiến nào cũng có thương tật dù là lính VNCH hay lính Cộng sản trong một thời cuộc bị chia đôi đất nước. Mong muốn chính quyền này đừng phân biệt [đối xử] chúng tôi bởi vì chúng ta là người VN.”

Được biết, có một vài trường hợp không phải là TPB nhưng họ đến ban tiếp tân để tìm cách bắt lỗi, họ muốn được vào tham dự, nhưng ban tiếp tân rất nghiêm minh và ôn hòa giải thích để từ chối sự hiện diện của họ.

Một thời binh lửa, một thời tan tác nhưng hôm nay quý TPB được gặp lại nhau trong niềm vui, trong sự an ủi. “Huynh đệ chí binh” những người lính xem nhau như anh em ruột thịt lại được gặp nhau. Một bữa cơm trưa, một món quà… không là gì cả, nhưng món quà lớn nhất mà quý TPB mong mỏi nhận được chính là sự trân trọng và sự bình an từ xã hội nơi mọi người.
TPH-3Cha Antôn Lê Ngọc Thanh, người dẫn chương trình trong buổi Tri ân Quý ông thương phế binh dùng cơm trưa với nhau.
Các chức sắc tôn giáo đại diện trao cho mỗi ông thương phế binh một phần quà là 1 triệu đồngvà một cuốn sách nhỏ nói về Quyền con người.

Điển Hình Một Thương Phế Binh VNCH: “Anh vẫn đi bên cạnh cuộc đời!” …

Trần Việt Trình.

Từng được mệnh danh là hòn ngọc Viễn Đông, những kiến trúc xưa cũ của Sài Gòn đã làm nên vẻ đẹp độc đáo một thời, đã để lại dấu ấn đậm nét trong lòng bao nhiêu người. Ngày nay, không ít công trình còn sót lại vẫn mang màu sắc, bóng dáng và hơi thở đã từng làm nên cái hồn của Sài Gòn thuở ấy. Có những vẻ đẹp mãi còn với năm tháng, nhưng cũng có những đổi thay đến ngỡ ngàng, xa lạ.Sài Gòn có những con đường không chỉ cho xe chạy, có những góc phố không chỉ là nơi hò hẹn và có những công viên không chỉ là chỗ nghỉ chân, hóng mát. Công viên Thống Nhất, nay là công viên 30-4, cũng không ngoại lệ. Nó như một Sài Gòn thu nhỏ hội tụ đủ mọi nhịp sống. Những thảm cỏ xanh trải dọc lối đi cùng bầu không khí trong lành, tĩnh lặng, tất cả hoà quyện lại tạo nên một khoảng không gian xanh quý giá ngay giữa trung tâm thành phố. Hiếm có công viên nào ở Sài Gòn gắn liền với những sự kiện lịch sử như công viên Thống Nhất. Mỗi góc phố, mỗi toà nhà đều mang đậm dấu ấn của thời gian. Một đầu công viên là nhà thờ Đức Bà trang nghiêm cổ kính được xây dựng từ thời Pháp thuộc. Đầu kia là Dinh Độc Lập (nay là dinh Thống Nhất) với kiến trúc bề thế và uy nghi nhưng vẫn mang vẻ tao nhã trong ánh nắng buổi sớm bình yên của Sài Gòn. Đại lộ Thống Nhất rộng lớn chạy giữa chia công viên ra làm hai với hai hàng cây xanh thẳng tắp đã dẫn đường cho xe tăng Trung Cộng đến đạp đổ cổng Dinh Độc Lập vào một ngày 30 tháng 4, đạp đổ luôn cả một chế độ tự do dân chủ mà quân dân miền Nam hết lòng xây dựng và gìn giữ.Nằm ngay giữa lòng Sài Gòn, công viên 30-4 ngày nay không chỉ là chốn lui tới vui chơi mà còn là nơi hội tụ những phận đời, phận người với những ước mơ rất đơn giản, bình dị, bình  thường.Công viên sáng sớm đã có cà phê lề đường. Xa xa, mấy chị hàng rong cùng đôi gánh với đủ thứ bánh trái. Dưới tàn cây xanh, em bé đánh giày ngồi ngáp vặt đợi khách. Bên kia, đoàn du khách đang băng qua đường với sự trợ giúp của một hướng dẫn viên du lịch. Có cả những người thích bàn chuyện thời sự, say sưa bình luận ở một góc khác của công viên.Từ sáng tinh mơ, lẫn trong số người đi dạo, tập thể dục, một hình ảnh quen thuộc của công viên là một ông lão luôn đến rất sớm, ngồi thù lù một góc trên ghế đá, bên cạnh chiếc xe lăn tồi tàn. Trên chiếc xe lăn tồi tàn ấy là đủ thứ lỉnh kỉnh: một cái bơm, vài chai xăng cùng những túi đựng ve chai. Tất cả những vật dụng đó ông lượm được từ các bãi rác.  Ông làm đủ nghề, từ việc nhặt những lon nước ngọt, ly nhựa mủ người ta uống vứt vương vãi, đến việc gom những tờ giấy báo người ta lót đất ngồi đã nhăn nhúm. Có khi ông còn bơm, vá xe và kiêm luôn việc bán xăng di động.

Gọi là ông lão vì thật tình không ai rõ ông bao nhiêu tuổi. Ông tên Nguyễn Văn Biền, chỉ mới 62 tuổi, nhưng có khuôn mặt cằn cỗi, già nua, đậm nét gian truân do bao nhiêu năm gian nan đã qua.Trước năm 75 ông là lính của VNCH, thuộc tiểu đoàn 7 nhảy dù. Ông bị thương vào một ngày tháng 12 năm 1974 tại đồi 1062 ở Thường Đức, tỉnh Quảng Nam, do trúng mìn của địch. Ông bị cụt chân phải, liệt chân trái, mù một mắt, mất 3 ngón tay trái, nhiều mảnh đạn vẫn còn ở trong ngực và đầu vẫn chưa được mổ lấy ra.Sau khi bị thương, ông được tải thương về bịnh viện Duy Tân Đà Nẵng, rồi đưa đi bịnh viện dã chiến của sư đoàn Dù tại Non Nước. Tháng 2 năm 1975 ông được chuyển về Tổng Y Viện Cộng Hoà để điều trị. Trong lúc chờ ra Hội Đồng Y Khoa thì biến cố 30 tháng 4 xảy ra.  Ông là một trong những thương binh nặng nhất của y viện trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Vô đến Sài Gòn là nhà cầm quyền mới xua đuổi ngay thương binh VNCH ra khỏi y viện. Cùng những thương binh bạn, ông phải bỏ giường chống nạn với vết thương chưa lành rời khỏi quân y viện. Bằng mọi cách, ông mày mò về đến Vĩnh Long để ở nhờ nhà cha của ông cũng là một thương phế binh đang sống trong một căn nhà do chính phủ VNCH cấp trong làng thương phế binh. Sống không được bao lâu thì nhà nước mới đuổi toàn bộ thương phế binh ra khỏi làng. Thật khốn khổ! Cuộc sống sao quá khắc nghiệt và đày đoạ! Cha con ông lại dắt díu nhau đi tìm người quen để xin ăn nhờ ở đậu. Ở hết chỗ này đến chỗ khác, rày đây mai đó. Do cuộc sống quá nhọc nhằn và kham khổ, do chỗ ăn chỗ ở không ổn định, các vết thương cứ tái phát nên cha ông đau buồn mà sinh ra bịnh hoạn rồi qua đời. Không tiền bạc, ông phải vào nhà thờ xin đất chôn cất cho cha. Đấp mộ cho cha xong ông đau lòng rời bỏ Vĩnh Long để trở lại Sài Gòn tìm cách sinh tồn. Kể từ ngày đó, ngày ngày ông phải lặn lội khắp các thôn cùng ngõ hẹp để tìm sự sống, sống cuộc sống đói rách ngày qua ngày, không biết than thở cùng ai.

Gần  40 năm nay ông chọn công viên làm chốn mưu sinh. Với ông, công viên còn thân thiết hơn cả căn nhà rách nát mà ông đang ở trong một xóm tồi tàn bên quận 4 vì phần lớn thời gian ông quanh quẩn ở công viên này để kiếm ngày hai bữa cơm và là nơi để ông tìm thấy chút niềm vui.Ngày nào cũng vậy, mới 4 giờ sáng,  trong lúc những người cỡ tuổi ông đi dạo mát, đi tập dưỡng sinh, chạy thể dục, thì cũng là lúc ông lọ mọ chuẩn bị cho chuỗi ngày kiếm sống cực nhọc của mình. Sáng tinh mơ ông đã lập cập lăn xe đi, lăn lóc qua biết bao con đường trong thành phố để đến công viên. Trên đường đi, ông còn tạt qua những đống rác bên đường lượm ve chai.Ngày nào cũng vậy, không ai bắt buộc nhưng ông vẫn có mặt ở công viên từ sáng tinh mơ đến tối mịt, lặng lẽ giữa một góc công viên rộng lớn nhưng đôi mắt luôn quan sát xung quanh tìm cơ hội chắt chiu từng đồng đắp đổi bữa ăn qua ngày.Trên đây là một mảnh đời khốn khổ của một thương phế binh bị bỏ quên ngoài đường phố. Cuộc sống của người dân miền Nam sau năm 1975 đổi đời đã gặp rất nhiều cơ cực, những thương phế binh VNCH lại càng nghiệt ngã hơn. 36 năm rồi,  họ vẫn sống dù bèo bọt và cùng cực. Là người thương tật, không có khả năng lao động, không hề nhận được bất cứ một sự giúp đỡ nào, lại bị phân biệt đối xử, họ đã phải hết sức vất vả để mưu sinh và tồn tại được trong bao nhiêu năm qua.39 năm đã đi qua, ngày qua ngày, công viên vô tình với hàng cây vẫn rợp bóng mát như muốn che bớt cái nắng chói chang của Sài Gòn. Thời gian vẫn âm thầm đổ bóng trên những con đường của phố phường Sài Gòn. Bóng ngắn vì thương tật của ông cũng âm thầm đổ bóng hàng ngày trên công viên nay mang tên 30-4, đánh dấu một biến cố làm thay đổi cả miền Nam và thay đổi hẳn đời ông.

-Trần Việt Trình -


S.O.S! Lời Kêu Cứu Của một Chiến Hữu Nha Kỹ Thuật.
Kính thưa Qúy Niên Trưởng , anh em , hậu duệ NKT. Tôi Hà đức Lợi xin được mạn phép thay mặt cho anh em BK/LH/VN gởi đến quý huynh đệ lời cầu cứu S.Ọ.S hầu mong sự giúp đỡ của Qúy anh cho bên này có 1 chiến hữu – Mã văn Qúy bị tai biến mạch máu não (xuất huyết não ) hiện đang trong tình trạng hôn mê sâu đã 7 ngày đêm , hoàn cảnh độc thân không vợ , con chăm sóc đang cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng. Xin sơ lược một chút về C/H Mã văn Qúy , trước đây 1968 khi mới 17 tuổi đã nhập ngũ thuộc chiến đoàn 2 (CCC) KON TUM, trung đội 3 đại đội 2 , cuối năm 1968 chuyển về chiến đoàn 1 (CCN) Đà Nẵng ở toán Fordeelaine đến năm 1970 về chiến đoàn 3 (CCS) Ban mê Thuật ở toán WEDGE đến 1971 về toán Thanh Sơn . Sau 1975 máu BK vẫn chảy trong huyết quản , Qúy lên rừng tham gia chiến đoàn Đồng Khởi do anh vợ tôi , Vi hữu Bằng cầm đầu , chống phá chế độ đến 1978 bị bắt , trong đó có cả C/H Hứa thiên Phượng cũng từng ở CCN,CCS.Anh em bị tuyên án , Vi hữu Bằng – tử hình ,Qúy & Phượng – chung thân , đưa xuống trại Đại Bình nhốt xà lim 6 năm , chân tay bị cùm , sau hàng năm được giảm án còn 16 năm , ra khỏi xà lim Qúy & Phượng rủ nhau vượt trại , 2 người bị bắn bị thương , Qúy bị nhẹ hơn , bị 1 viên vào đùi phải vẫn dìu Phượng chạy được hai ngày máu ra nhiều Phượng chết , Qúy chôn bạn xong thì tiếp tục đào tẩu sau 2 tháng về tới làng thượng ĐamMe vì đói , khát ngất xỉu và bị bắt lại và bị tăng án 21 năm ( đêm Qúy bị bắt lại , tôi gặp Qúy trong phòng biệt giam của huyện năm 1983 , Qúy chỉ còn xương bọc da , trên đùi vết thương chưa lành hẳn.)… Thưa Qúy Huynh chúng ta có 20 năm tuổi trẻ thì đã phục vụ cho chiến tranh , còn 21 năm thì nướng trong nhà tù CS.Qúy còn gì để mất , nên khi sống sót trở về nhà tù Qúy có suy nghĩ cái mạng còn là nhờ ơn trên che trở , nên Qúy nguyện ăn chay trường niệm Phật từ đó đến nay,không lấy vợ , ra tù chui vào rưng cách xa Tùng Nghĩa 26 km phá rừng trồng được 5 sào (5000m2) cafe , được đồng nào Qúy giúp cho đứa cháu con ông anh lớn đã chết, còn lại 1 ông anh ruột đã ngoài 70 tuổi là Mã phúc Định cũng là C/H mình.Nay Qúy hoạn nạn như vậy anh em bên này xa gần cũng đến thăm , giúp đỡ… Chiến hữu với nhau già hết rồi , còn gì để dành cho nhau ? chỉ còn chút tình . Qúy là nhỏ nhưng cũng đã 64 tuổi rồi …Đôi dòng kính báo cùng Qúy Huynh Đệ cầu mong được sự giúp đỡ của Qúy Huynh. Kính chúc Qúy Huynh được mạnh khỏe và mọi sự an lành . Địa chỉ liên hệ: Mã phúc Định (anh trai Qúy ) 10c/5 hẻm Phan chu Trinh thị trấn -Liên Nghĩa – Đức Trọng-Lâm Đồng phone : 01277647966  ( Ngọc Anh – con gái anh Định) kèm 2 tấm ảnh.Kính thư Hà đức LợiMiếng Khi Đói, Gói Khi No!Tôi Không Quên AnhNgười Thương Phế Binh VNCH.Mỗi Tuần Một Hồ Sơ Được Đăng Trên Thằng Mõ Hằng Tuần. (Có địa chỉ để gởi thẳng về người nhận)Chương trình đã thực hiện gần 15 năm. (Sau Đại Nhạc Hội Tôi Không Quên Anh!)

Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2014

"30-4-2014" được công bố là Tháng Tư Đen - Ngày Quốc Hận!

Thị Trưởng Thành Phố Ottawa, Ông Jim Waston công bố ngày 30 tháng 4 năm 2014 là ngày Quốc Hận
 
posted Apr 16, 2014, 3:20 PM by Le Phan
Ngày 30 tháng 4 năm 2014 là ngày Quốc Hận của thành phố Ottawa

Nhân mùa Quốc Hận 30-4 sắp tới, để tưởng niệm 39 năm ngày CSVN cưỡng chiếm miền Nam Tự Do, đồng thời đánh dấu 39 năm chế độ bạo tàn CSVN ngự trị trên quê hương, tạo nên vạn nỗi đau thương cho dân tộc Việt Nam.

Cộng Đồng Người Việt Ottawa cùng nhau đốt nén hương lòng để tưởng niệm đến những đồng bào đã bỏ mình trên biển cả, trong rừng sâu nước độc trên đường đi tìm tự do. Ghi ơn những Chiến Sĩ, Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa can trường năm nào, dù còn sống nơi quê nhà hay ven trời góc biển, hay nằm yên trong đáy mộ hoang tàn, hay xương cốt còn rải rác chốn rừng hoang và vùi thây nơi những trại tù oan nghiệt.

Cộng Đồng Người Việt Ottawa cũng ghi nhận sự đóng góp thiết thực của đồng bào Tỵ Nạn Cộng Sản vào sự phát triển một xã hội đa văn hóa của thành phố Ottawa.

Thượng Nghị Sĩ (TNS) Ngô Thanh Hải của Canada đã đến gặp Ông Thị Trưởng Thành Phố Ottawa, Ông Jim Waston và đã được ông Thị Trưởng Thành Phố Ottawa công bố rằng ngày 30 tháng 4 năm 2014 là ngày Quốc Hận của thành phố Ottawa.

 
Le 30 avril, la ville d’Ottawa soulignera le Jour de l’Avril noir
 
OTTAWA – Le 16 avril 2014, l’honorable sénateur Thanh Hai Ngo a rencontré le maire d’Ottawa, Jim Watson, et un déléguer de la communauté vietnamienne d’Ottawa en vue de la commémoration, le 30 avril prochain, de la trente-neuvième année de la chute de Saigon.

« Cette proclamation non seulement honore la mémoire des victimes de la guerre du Vietnam, mais aussi salue la communauté vietnamienne‑canadienne d’Ottawa, ainsi que les nombreux survivants et réfugiés de la guerre qui ont fait des contributions positives et importantes à la diversité culturelle de la ville d’Ottawa », a déclaré le sénateur Ngo.

Au début des années 1980, la Ville d’Ottawa entreprit « le Projet 4000 » et est devenue le nouveau lieu de résidence pour environ 4 mille Vietnamiens qui ont dû affronter en mer des tempêtes mortelles, des pirates, des maladies et la faim. Selon le Haut-Commissariat des Nations Unies pour les réfugiés, 250 000 réfugié « boat people » ont péri en mer en quête de liberté.

 
City of Ottawa recognizes April 30th 2014 as Black April Day
 
OTTAWA – On April 16th 2014, the Honourable Senator Thanh Hai Ngo met with Ottawa City Mayor Jim Watson and a delegate from the Ottawa Vietnamese community to commemorate April 30th as the thirty-ninth year of the fall of Saigon.
 
“This proclamation not only remembers the victims of the Vietnamese War, but also recoginizes the Vietnamese-Canadian community of Ottawa, and the many survivors and refugees of the war, who have made positives and valuable contribution to the cultural diversity in the city of Ottawa.” said Senator Ngo.
 
In the early 1980s, the City of Ottawa spearheaded “Project 4000” and became the new home of approximately 4 thousand Vietnamese who arrived in Canada after navigating through deadly storms, pirate threats, diseases and starvation. According to the United Nation High Commission for Refugees, 250 thousand Boat People perished at sea looking for freedom

 

Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

Mỹ linh trả lời Bùi Tín - một bài viết về Hồ Chí Minh!

Tháng 4 6 2014

Phản Biện Bài Viết Của Ông Bùi Tín Về Nhân Vật Hồ Chí Minh


Mỹ linh
Trước khi phản biện bài viết của ông Bùi Tín với tựa đề “Cuộc Đánh Tráo Không Thể Có“, tôi là người quý trọng ông Bùi Tín như ông đã từng quý trọng mạng Thông Luận. Tôi công nhận ông Bùi Tín đã đóng góp nhiều bài viết có chất lượng, có giá trị trong việc đấu tranh dân chủ hóa đất nước, và tôi rất cám ơn ông về điều đó. Nhưng nói đến nhân vật Hồ Chí Minh, tôi nghĩ ông Bùi Tín nên giữ im lặng thì hay hơn. Vì sao tôi viết thế? Đơn giản, ông BT đã có 45 tuổi đảng, rồi mới nhận thức ra mình bị ĐCSVN lừa, và ra khỏi Đảng, thì những sự hiểu biết của ông về HCM trong quá khứ cũng vẫn có thể cũng bị lừa bởi Đảng.

Tôi có ý muốn nói, ông BT đã sai lầm suốt 45 năm rồi, thì không nên viết bài khẳng định mình không tiếp tục sai lầm về nhận xét nhân vật HCM này. Đúng ra là ông không nên viết bài một cách quá chủ quan để phê phán những người như ông Trần Bình Nam, ông Huỳnh Tâm, và mạng Thông Luận… Từ trước năm 2001, trước khi bộ phim 24 tập Trường Chinh ra đời, của đạo diễn Kim Thao, Đường Quốc Cường thủ vai Mao Trạch Đông, do đài VTV3 trình chiếu, có mấy ai biết được sự thật lịch sử: nguồn gốc lá cờ đỏ sao vàng đến từ tỉnh Phúc Kiến bên Tàu. Những ai đã từng xem phim cũng chưa phát hiện được sự thật lịch sử đó. Mãi đến 2005, người ta mới phát hiện ra, lá cờ đỏ sao vàng nằm trong trang mạng http://www.worldstatesmen.org/China.html (*1).

Từ đó sự thật lịch sử mới được phô bày, lá cờ đỏ sao vàng là của Tàu. Gần đây, người ta vạch trần một sự thật lịch sử nữa: HCM với bút hiệu CB (bút hiệu này được dùng tại 147 tài liệu viết từ tháng 3 năm 1951 đến tháng 3 tháng 1957, trên báo Nhân Dân), đã là tác giả của bài viết “Địa Chủ Ác Ghê”. Đọc qua bài viết, chẳng cần phải suy nghĩ, cũng biết ngay đây là một bài viết vu khống bà Trần Thị Năm (Cát Thanh Long) đã “giết chết ngót 260 đồng bào”, nhằm để HCM phát động phong trào Cải Cách Ruộng Đất, sát hại 172.008 người (*3). Đểu cán của HCM là mượn bút danh CB giết bà Năm xong, rồi HCM giả vờ thương xót: “Không ổn! Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách nổ súng vào một phụ nữ, mà người phụ nữ ấy lại là người từng nuôi cán bộ cộng sản, là mẹ một trung đoàn trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam đang tại chức !” (Trích từ hồi ký Hoàng Tùng). Đểu cán thêm nữa, chính HCM phát động CCRĐ, rồi chính y lại giả vờ lau nước mắt, rồi đổ hết tội lỗi cho Trường Chinh, rồi huề cả làng, chẳng ai bị xử tử hay bị ở tù. Tôi viết những điều trên để chứng minh chế độ CS là vua lừa bịp và thay đổi những sự thật lịch sử, trước khi phản biện bài viết của ông BT.

Quý vị cũng nên đọc thử qua bài viết của ông BT, tôi hoàn toàn không tìm thấy một bằng chứng xác thực nào để chứng minh ông HCM tức là Nguyễn Ái Quốc bị giam tại Hồng Kông năm 1931-1932. Bài viết của ông chỉ nhằm phản bác lại bà Vera Vasilieva và cuốn sách “HCM Sinh Bình Khảo” của GS Đài Loan Hồ Tuấn Hùng, vì ông Hùng cho rằng, cháu ruột ông, Hồ Tập Chương đã giả mạo HCM. Ông BT phản biện một cách yếu ớt, mơ hồ, nếu không muốn nói là ấu trĩ. Yếu ớt khi ông BT cho rằng: “hơn 5 năm nay, các cơ quan ngôn luận chính thức của đảng CS VN cũng như của đảng CS TQ đều im hơi lặng tiếng, không xác nhận mà cũng không phủ nhận nội dung cuốn sách quan trọng này.” Tại sao ông BT không nghĩ ngược lại, vì nó là sự thật nên phủ nhận sẽ bị lôi ra thêm bằng chứng, còn xác nhận sẽ lòi chành ra sự gian dối, lừa gạt bấy lâu nay. Mơ hồ ở chỗ ông viết: “Ông biết chăng, hồi năm 1960 ông Hồ Chí Minh mời vợ chồng luật sư Frank Loseby sang Hà Nội, khách vẫn nhận ra ông bạn cũ của gần 30 năm trước, đâu có phải là ai khác?” Trong khi đó, tờ L’Humanité của Pháp, số ra ngày 9 tháng 8 năm 1932 đưa tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong trạm xá nhà tù tại Hồng Kông và tờ Daily Worker của Đảng Cộng Sản Anh cũng đăng tin “ông Hồ đã chết vì bịnh lao trong khám đường Hồng Kông”, trang 79, trong cuốn “Từ Thực Dân Đến CS của ông Hoàng Văn Chí”. Mơ hồ vì luật sư Frank Loseby cãi cho Tống Văn Sơ, chứ có phải cho Nguyễn Ái Quốc đâu. Tống Văn Sơ có phải là bí danh của Nguyễn Ái Quốc, vẫn còn là một câu hỏi? Cá nhân luật sư Frank Loseby vẫn còn là một dấu hỏi? 30 năm một người ngoại quốc nhận ra một người Việt Nam, cũng rất mơ hồ. Báo chí VC đăng về ông Frank Loseby cũng là một việc không đáng tin được. Biết bao nhiêu dấu hỏi trong vụ này. Một thằng chuyên môn lường gạt, nó có đủ mọi cách để lường gạt, quá dễ mà. Nó có thể ngụy tạo một luật sư nào đó bào chữa cho nó để được ra khỏi tù Hồng Kông, dễ thôi mà.

Còn về ấu trỉ, khi ông BT dám viết rằng:
“Điều rất kỳ lạ là hơn 5 năm nay, các cơ quan ngôn luận chính thức của đảng CS VN cũng như của đảng CS TQ đều im hơi lặng tiếng, không xác nhận mà cũng không phủ nhận nội dung cuốn sách quan trọng này.” và “nội dung cuốn sách chỉ là một điều hoang tưởng, theo kiểu tiểu thuyết trinh thám rẻ tiền, có thể là do động cơ vụ lợi kèm theo động cơ chính trị ám muội kiểu nước lớn đang nuôi dưỡng dã tâm thôn tính lâu dài nước ta theo kiểu gặm nhấm dần.”
Cái ấu trỉ của ông BT là đợi sự trả lời của 2 đảng CS chuyên môn nói dối, và ông ta lại tin tưởng rằng Tàu Cộng không có dã tâm thôn tính lâu dài nước ta theo kiểu gặm nhấm dần đâu. Có lẽ ông BT đã quên lịch sử 1000 năm Bắc thuộc của nước VN ta rồi.

Nói ngay, tôi chỉ đọc lướt cuốn HCM Sanh Bình Khảo, không nắm vững, nên không muốn phản biện về cuốn sách này cũng như nhân vật Hồ Tập Chương. Ở đây, tôi chỉ muốn phản biện phần ông BT viết: (Rồi năm 1946 khi bà Thanh chị cả ông Hồ Chí Minh ra Hà Nội, bà nhận ra ngay “thằng Coong, có cái sẹo ở tai trái do đi câu cá bị nạn khi còn nhỏ”, đâu có ngỡ ngàng gì. Ông Cả Khiêm cũng vậy, ông đã nhận ra ngay em ruột mình không chút băn khoăn.) Tôi giả sử rằng câu chuyện này là có thật, (nghĩa là vào năm 1946, bà Thanh có ra Hà Nội, và có gặp ông HCM và có nói câu: “thằng Coong, có cái sẹo ở tai trái do đi câu cá bị nạn khi còn nhỏ”, còn ông Khiêm cũng đã nhận ra em ruột mình không chút băn khoăn.) thì sẽ lòi ra việc “không tin” hay “nghi ngờ” trong lòng của bà Thanh trước khi gặp HCM, nên phải nhìn cái sẹo ở tai trái. Không phải đợi đến cuốn sách HCM Sanh Bình Khảo ra đời, người ta mới bắt đầu nghi ngờ HCM không phải là Nguyễn Ái Quốc. Mà từ trước đó, việc nghi ngờ này đã được ghi trong sách “Từ Thực Dân Đến Cộng Sản”, xuất bản năm 1964, của ông Hoàng Văn Chí (tham gia Kháng Chiến Chống Pháp từ đầu đến cuối (1946-54), giữ chức vụ đúc tiền, làm giấy in bạc, chế tạo hóa chất cho quốc phòng, và từng được HCM tuyên dương công trạng trên toàn quốc), ở trang 54 và trang 79 như sau:
 



Cho tôi đặt câu hỏi với ông BT, tại sao có sự “nghi ngờ” đó của bà Thanh? Chị em sao 35 năm gặp lại, cũng bình thường thôi. Thường thì người ta sung sướng rồi ôm nhau mà khóc, mà kể lể, chẳng ai cần phải tìm cái “sẹo” hay “nốt ruồi sau gáy” (phần này ông Bùi Tín nói trên Paltalk.com trong Chương Trình TalkShow với phóng viên Chim Quốc Quốc VNCH) để mà nhận diện ra nhau. Tôi tin rằng ông BT không nói láo khi ông đã đọc được trên sách báo của CS, hay nghe CS kể về cái “sẹo” hay “nốt ruồi sau gáy” của HCM, nhưng tôi vẫn có cái suy luận của riêng tôi:
a) 45 năm tuổi đảng của ông BT mới nhận ra sự lường gạt của Đảng, phải bỏ Đảng, giờ lại tin vào sách báo của CS, hay tin lời CS đã kể cho ông nghe, vậy có phải ông BT rất ấu trỉ?
b) Thường những tên bịp bợm (như HCM) tìm mọi cách để chứng minh mình không bịp bợm, mới tạo ra câu chuyện “cái sẹo”, “cái nốt ruồi sau gáy”. Nếu đường đường chính chính, chẳng ai cần ba cái thứ này.


Bà Thanh, ông Khiêm, hay tất cả chúng ta, nếu là con người bình thường, đều phải nghi ngờ nhiều sự kiện bất bình thường đã xảy ra đối với nhân vật HCM này:

1) Có ít nhất 4 văn kiện nói về Nguyễn Ái Quốc bị bịnh ho lao, mang vi trùng Koch, một trong “tứ bịnh nan y”. Thời đó, chưa có phát minh ra thuốc Streptomycine để trị vi trùng này, nên ai mang bịnh đều phải chết. Riêng phần này, ông BT biện luận rằng, nguyên văn: “anh Nguyễn Khắc Viện, bị lao từ năm 26 tuổi, 28 tuổi bị cắt hẳn một bên phổi, một bên phổi ép chỉ còn có 2/3 thôi, ảnh nghĩ rằng chỉ còn sống được 6 tháng và năm 1963 ảnh về nước, ảnh nói cũng may lắm, sống thêm được 3 năm, nhưng mà ảnh sống đến năm 82 tuổi, 45 năm sau, đấy là lao phổi chính cống đấy. Cho nên, người ta có đủ thuốc ngay từ những năm 1930 để hạn chế vi trùng Koch, để người ta có thể mổ phổi, ép phổi, cắt phổi, để nó không lây lan qua các bộ phận khác…” Chúng ta biết Streptomycin là thuốc trị bịnh lao, được giới thiệu bởi Albert Schatz vào 19/10/1943, nhưng mãi đến năm 1946-1947 mới bắt đầu thử nghiệm. Ông bác sĩ Viện sinh năm 1913, tức năm 1939, ông bị bịnh ho lao, lúc đó chưa có thuốc Streptomycin mà ông vẫn có thể tiếp tục sống được, phải công nhận đây là một câu chuyện hiếm có, hy hữu, chuyện khó tin nhưng có thật. Nhưng đem sự có thật hy hữu này để chứng minh HCM cũng thoát chết giống y bác sĩ Viện, chẳng khác nào câu chuyện may mắn trúng số độc đắc, thưa ông BT. Biện luận của ông kiểu này, hoàn toàn không thuyết phục được người nghe, chẳng khác gì cãi bừa.

2) Cá nhân tôi đọc nhiều tin trái ngược với ông BT về chuyện bà Thanh lên Hà Nội. Nhiều nguồn tin cho rằng bà Thanh nào có được gặp HCM, vì ông ta rất bận việc nước, nên không có thì giờ tiếp xúc, rốt cuộc bà Thanh ở khách sạn và bị giết chết một cách mờ ám. Tôi tin điều này hơn “cái sẹo” và “cái nốt ruồi sau gáy”. Theo như ông BT, ông nói vào năm 1957, ông có tháp tùng với HCM về Làng Sen, lúc đó bà Thanh đã qua đời năm 1954, ông Khiêm cũng qua đời năm 1950. Một tên vô tình, quên nguồn gốc như HCM, bỗng nhiên thức tỉnh, đợi đến anh chị mình qua đời, làm chủ tịch nước những 12 năm, rồi mới trở lại thăm quê của mình, thì làm gì có vụ tiếp bà Thanh ở Hà Nội để biết “vết sẹo” và “nốt ruồi sau gáy”.

3) Một người hồi nhỏ đến lúc ra đi mang họ Nguyễn, giờ lên chủ tịch nước, bỗng dưng đổi sang họ Hồ, rất bất bình thường. Bởi thế thiên hạ đẻ ra câu chuyện Hồ Sĩ Tạo gì đó để cho ăn khớp với họ Hồ. Rồi còn ép cả nước phải gọi mình bằng “Bác”, bằng “cha già dân tộc”, rất bất bình thường. Nhưng xem ra rất bình thường đối với giặc Tàu, vì tránh được sự loạn luân.

4) Một chính khách nổi tiếng như Nguyễn Ái Quốc, trong suốt 9 năm dài, từ 1932 cho tới khi xuất hiện ở hang Pắc Pó năm 1941 với tên mới là HCM, chẳng ai biết ông ta ở đâu, làm gì, là chuyện rất bất bình thường.

5) Vào ngày 3 tháng 2 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc triệu tập các đại biểu cộng sản để thành lập ĐCSVN. Nhiều đời Tổng Bí Thư đã trải qua như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, … Ông NAQ coi như là cột trụ của ĐCSVN, ấy thế mà chưa từng giữ chức vụ Tổng Bí Thư ĐCSVN, cho mãi đến 1945, khi cướp được chính quyền. Đây cũng là việc rất bất bình thường.

6) HCM được gọi là một nhà yêu nước vĩ đại, lại sử dụng lá cờ Tàu của tỉnh Phúc Kiến làm cờ nước, và lại ký kết Hiệp Định Geneve để chia đôi lãnh thổ VN, rồi còn dâng cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho giặc Tàu với công hàm bán nước Phạm Văn Đồng ký. Quả thật đây là những việc rất bất bình thường.

7) Một Nguyễn Ái Quốc đấu tranh cứu nước suốt mấy chục năm trời, với hàng ngàn bài viết, đã từng học trung học, hôm nay mang danh HCM lại viết di chúc sai chính tả, rồi gạch xóa tùm lum. Trong bài viết đầy ký hiệu phiên âm không có trong tự điển như: f, z, j, w, thí dụ như fương fáp, zũng, jì đó, trung wơng. Đây cũng là việc rất bất bình thường.

8) Từ lúc HCM làm chủ tịch nước cho tới lúc chết đi, chưa một lần ông ta bận quốc phục Việt Nam với áo dài khăn đóng, như cụ TT Ngô Đình Diệm, hay cụ TT Nguyễn Văn Thiệu trong những dịp lễ, mà toàn là bận đồ đại cán của Tàu 4 túi. Đây cũng là việc rất bất bình thường.

9) Trong lúc HCM làm chủ tịch nước, lại chỉ thị cho văn nô Tố Hữu viết ra những vần thơ bắt học sinh, sinh viên phải học thuộc mà chúng ta không thể tưởng tượng được:

- Thương biết mấy khi con tập nói,
Tiếng đầu lòng con gọi Xi’t Ta Lin…
- Thương cha thương mẹ thương chồng,
Thương mình thương một thương ông thương mười…
- Giết giết nữa bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch thờ Xít Ta Lin bất diệt…


Những bài thơ như thế này làm băng hoại tinh thần tự tin, tự chủ, tinh thần kính mến tiền nhân. Rất xấu hổ cho dân tộc Việt Nam, bị ép đi thờ những tên ngoại bang Mao Trạch Đông và Stalin giết người không gớm tay. Chuyện này cũng quá đổi bất bình thường.

10) Việt Nam có gần 5000 năm văn hiến, bản chất của người Việt Nam rất nhân hậu, hiếu hòa, hiếu học, tôn trọng tinh thần theo thứ tự ”sĩ nông công thương“. Sĩ là người có học được đứng đầu danh sách. Cớ sao, HCM lại phát động “trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ“. Trí cũng là Sĩ lại bị tiêu diệt hàng đầu. Thử hỏi, thành phần trí thức bị tận diệt thì tương lai nước VN sẽ ra sao? Nước VN sẽ không còn nhân tài thì chuyện gì sẽ xảy ra? HCM là một nhà yêu nước mà sát hại hàng trăm ngàn dân qua Cải Cách Ruộng Đất là một chuyện quá đổi bất bình thường.

11) HCM ký ngay Hiệp Định Sơ Bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 với thực dân Pháp để hợp thức hóa việc trở lại chiếm đóng của quân đội Pháp, rồi thừa cơ, sai Võ Nguyên Giáp tiêu diệt tất cả những người Việt Nam yêu nước nằm trong Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng, 2 đảng phái lớn nhất thời bấy giờ. HCM là một nhà yêu nước mà tiêu diệt 2 đảng phải yêu nước, cùng chống Pháp, là bạn đồng hành với mình, cũng là một việc bất bình thường.
Còn biết bao nhiều điều bất bình thường nữa, khi nói về nhân vật HCM này. Nhưng 11 sự kiện trên cũng đã quá đủ để chứng minh ông ta không phải là Nguyễn Ái Quốc của trước năm 1932, mà là một tên gián điệp Tàu. Nói như thế, lại có một số người tàn nhẫn phán ngay: “Thế là Mỹ Linh chạy tội cho Đảng CSVN”. Họ còn phán thêm: “HCM giả hay thiệt việc đó không quan trọng.” Đây là những lời phán thiếu suy nghĩ của một số người. Họ thiếu nhận thức, và họ không hiểu tại sao ĐCSVN vẫn còn tiếp tục tồn tại? Họ không hiểu rằng dân trong quốc nội đã bị đầu độc hàng chục năm qua về hình ảnh một HCM đẹp đẽ, vĩ đại, đạo đức, yêu nước… và ĐCSVN đang sống nhờ vào xác chết HCM ấy, như tấm bình phong che chở chúng.
Tội ác của ĐCSVN chất cao như núi rồi, Mỹ Linh chạy tội cho nó được hay sao? Tại sao chúng ta không vạch ra những bằng chứng lịch sử để mọi người đều hiểu sự thật về sự bịp bợm của HCM? Tại sao chúng ta không cùng nghĩ để kéo sập Lăng Ba Đình vì đang thờ thằng gián điệp Tàu nằm trong đó? Tôi có thể khẳng định, nếu mọi người đều hiểu sự thật về sự bịp bợm, giả trá của HCM, ĐCSVN sẽ sụp đổ ngay.

Vào đoạn kết, ông BT có viết: “một việc làm cần thiết lúc này, để cho mọi sự được công bằng, minh bạch, lịch sử trở lại đúng như nó có thật, chính là thái độ mọi công dân yêu nước cần có.” Cũng bởi có câu viết này của ông BT, nên tôi đã viết bài phản luận này. Tôi cũng cần sự thật lịch sử y như ông BT.

Ngày 5 tháng 4 năm 2014
Mỹ linh


http://freevietnamnow.blogspot.com
Xin phổ biến tự do

Đính kèm:
(*1) http://freevietnamnow.blogspot.com/2014/02/tu-huyet-cua-csvn-co-video-clip-chung.html (Tử Huyệt Của ĐCSVN)
(*2) http://danlambaovn.blogspot.com/2014/04/but-danh-cb-la-cua-ong-ho.html (Bút Danh C.B. Là Của Ông Hồ)
(*3) “truy bức để đôn tỷ lệ địa chủ lên 5% như một qui định bắt buộc” (trang 86, Tập II của Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam). Lúc đó, dân số miền Bắc có 10 triệu, nên con số chính xác có thể lên tới 500.000 người bị sát hại, chứ không phải chỉ có 172.008 người như trong sách, đã thừa nhận.
(*4) Bài viết của ông Bùi Tín: http://thienngon.blogspot.ca/2014/04/bui-tin-voa-len-tieng.html